bài văn về khởi nghiệp
Giáo án tuần 26: shdc - Diễn đàn “thanh niên khởi nghiệp sáng tạo” sách HĐTN 10 kết nối. Được thiết kế theo công văn 5512, chi tiết, đầy đủ. Giáo án là bản word, có thể tải về và dễ dàng chỉnh sửa. Bộ giáo án có đầy đủ các bài trong học kì 1 + học kì 2 của HĐTN 10 kết nối. Kéo xuống dưới để tham
Bước 10: Xác định yếu tố cốt lõi • Giải thích tại sao doanh nghiệp của bạn lại có thể làm được điều đó trong khi những người khác thì không – Hiệu ứng mạng lưới (Facebook, Linkedin, eBay) – Dịch vụ khách hàng (do quy trình và văn hóa) – Giá rẻ nhất (do công nghệ
Hơm nay, thay mặt cho 53 đoàn viên chi đoàn K61-QTVP khoa LTH&QTVP- Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN, xin phép báo cáo tham luận chủ đề: “Thúc đẩy ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp sinh viên khoa LTH&QTVP” Kính thưa Đại hội!
Giải Sử 10 Bài 6: Văn minh Ai Cập; Giải Sử 10 Bài 7: Văn minh Trung Hoa cổ - trung đại; Giải Sử 10 Bài 8: Văn minh Ấn Độ cổ - trung đại; Giải Sử 10 Bài 9: Văn minh Hy Lạp - La Mã cổ đại; Giải Sử 10 Bài 10: Văn minh tây âu thời phục hưng; Chương III.
Đánh giá của bạn: Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức. Bạn đang đọc bài viết Luận về start up tại chuyên mục Khởi nghiệp của Báo Diễn đàn doanh nghiệp. Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác: email toasoan
KIẾN THỨC CHUNG VỀ KHỞI NGHIỆP Nhằm mục đích cung cấp những kiến thức chung, cơ bản về khởi nghiệp, Chương một sẽ tổng quan về: (1) Các khái niệm cơ bản về khởi nghiệp, (2) Vai trò và lợi ích của trường đại học trong việc thúc đẩy khởi nghiệp
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. ArticlePDF AvailableAbstractMục đích của bài viết là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen 1991 kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh mô hình và thang đo sơ bộ, hình thành mô hình và thang đo nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu định lượng được tiến hành để kiểm định độ tin cậy thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là 1 đặc điểm tính cách, 2 giáo dục khởi nghiệp, 3 kinh nghiệm, 4 nhận thức kiểm soát hành vi và 5 quy chuẩn chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. 170 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang A study of factors affecting Tien Giang University students’ entrepreneurial intention Võ Văn Hiền1, Lê Hoàng Vân Trang1* 1Trường Đại học Tiền Giang, Việt Nam *Tác giả liên hệ, Email lehoangvantrang DOI Ngày nhận 09/07/2020 Ngày nhận lại 22/09/2020 Duyệt đăng 30/10/2020 Từ khóa ý định khởi nghiệp; kinh nghiệm; tính cách; sinh viên Keywords entrepreneurial intention; experience; personality; students Mục đích của bài viết là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định của Ajzen 1991 kết hợp với các nghiên cứu liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh mô hình và thang đo sơ bộ, hình thành mô hình và thang đo nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu định lượng được tiến hành để kiểm định độ tin cậy thang đo và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần là 1 đặc điểm tính cách, 2 giáo dục khởi nghiệp, 3 kinh nghiệm, 4 nhận thức kiểm soát hành vi và 5 quy chuẩn chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. ABSTRACT The objective of this paper is to identify the factors affecting Tien Giang university students’ entrepreneurial intention. The study is based on the theory of Planned Behavior Ajzen, 1991 and previous relevant empirical studies to build a proposed research model which included seven factors influencing students’ entrepreneurial intention. Qualitative research corrected the research model and preliminary research scale and formed the official research model and scale. Quantitative research was used to test the scale’s reliability and measure the impact of factors on entrepreneurial intention through the multivariate linear regression analysis. Study results indicated that five factors were being sorted by the level of diminishing influence 1 personality traits, 2 entrepreneurship education, 3 experience, 4 perceived behavioral control, and 5 subjective norm. Besides, the study Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 171 also showed differences relevant to students’ entrepreneurial intention by gender. Based on the study outcomes, the paper was concluded by giving some managerial implications relevant to 05 influencing factors to increase students’ entrepreneurial intention in the considered area and proposing research directions for the future. 1. Giới thiệu Thời gian qua, khởi nghiệp được xem là một trong những hoạt động có tầm ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của đất nước và là một giải pháp hữu hiệu cho tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng. Nhiều chính sách khuyến khích khởi nghiệp đối với thanh niên đã được Chính phủ ban hành. Trong số đó, những đề án phát huy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên luôn được chú trọng, mà điển hình là đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” gọi tắt là Đề án 1665 được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành ngày 30/10/2017. Có thể nói, sinh viên với sự trẻ trung, năng động và nguồn ý tưởng khởi nghiệp đa dạng sẽ là những nhà khởi nghiệp tiềm năng sau này. Xét riêng Trường Đại học Tiền Giang, bên cạnh sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và mang đến cho người học cơ hội nghề nghiệp để thăng tiến, việc truyền cảm hứng khởi nghiệp và hình thành năng lực khởi nghiệp trong các thế hệ sinh viên cũng được nhà trường chú trọng. Trong năm 2019, trường đã phối hợp với Tập đoàn Trung Nguyên Legend khởi xướng chương trình “Hành trình từ trái tim - Hành trình lập chí vĩ đại - Khởi nghiệp kiến quốc”. Bên cạnh đó, bắt đầu từ năm 2012 đến nay, cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” được tổ chức thường lệ hàng năm như một hình thức mà nhà trường góp phần tạo môi trường khích lệ khởi nghiệp chung trong xã hội. Tuy nhiên trong thực tế, các ý tưởng kinh doanh của sinh viên chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Hầu hết sinh viên chưa mạnh dạn thực hiện khởi nghiệp sau khi ra trường, kể cả sinh viên thuộc nhóm ngành kinh tế. Theo phòng công tác sinh viên và trung tâm khảo thí Trường Đại học Tiền Giang 2019, số sinh viên khởi nghiệp kinh doanh hay tự tạo việc làm cho mình chỉ chiếm khoảng Số liệu có được từ việc thực hiện khảo sát việc làm của 487 cựu sinh viên sau một năm ra trường các sinh viên tốt nghiệp vào tháng 09/2018. Điều này chứng tỏ đã có sinh viên của trường khởi sự kinh doanh và tự tạo việc làm cho bản thân nhưng tỷ lệ vẫn còn rất thấp. Theo Krueger và Brazeal 1994, ý định cho khởi nghiệp chính là tiền đề cho hành vi khởi nghiệp. Điều này khẳng định việc nghiên cứu ý định khởi nghiệp là rất quan trọng và thể hiện nỗ lực khuyến khích các hoạt động tự kinh doanh. Thực chất, các bạn sinh viên muốn khởi nghiệp thành công thì phải có sự đầu tư tìm hiểu kỹ lưỡng ngay từ lúc ban đầu hình thành ý định. Nhiều nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi nghiệp của sinh viên được thực hiện như các nghiên cứu của Ambad và Damit 2016; Suan, Ai, Raman, Loon, và Tanumihardja 2011; Zhang, Duysters, và Cloodt 2014... Việt Nam cũng có một số nghiên cứu cùng lĩnh vực nhưng chủ yếu đều thực hiện tại các trường đại học ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh TP. HCM hay Cần Thơ, và hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm của từng trường đại học cũng như hoàn cảnh từng địa phương mà các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng sẽ được tiếp cận theo những khía cạnh khác nhau. Với những lý do trên, việc triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang” là cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ mang đến cho lãnh đạo nhà trường cái nhìn toàn diện về những yếu tố nào thật sự ảnh hưởng đến ý 172 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đưa ra những định hướng hỗ trợ phù hợp, giúp sinh viên có được những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết làm hành trang khi khởi nghiệp sau này. Ngoài phần tóm tắt, giới thiệu và tài liệu tham khảo thì nội dung bài nghiên cứu bao gồm cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và thảo luận, kết luận và các hàm ý quản trị. 2. Cơ sở lý thuyết Khởi nghiệp Entrepreneurship Các quan điểm về khởi nghiệp luôn khác nhau và định nghĩa khởi nghiệp không là duy nhất. MacMillan 1993 định nghĩa khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu. Hisrich và Drovensek 2002 cho rằng khởi nghiệp là quá trình tạo ra một cái gì đó mới mẻ, có giá trị bằng cách dành thời gian và nỗ lực cần thiết để đạt được sự độc lập về tiền tệ, trong đó có những rủi ro về tài chính, tâm linh và xã hội kèm theo. Theo Nga và Shamuganathan 2010, khởi nghiệp là sự theo đuổi các cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn với các nguồn lực hữu hình giới hạn. Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp sẽ được hiểu là sự tạo dựng một công việc kinh doanh mới hay thành lập một doanh nghiệp mới thông qua những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, nhận diện và tận dụng được các cơ hội để đạt được sự hài lòng trong việc kinh doanh của chính mình Koe, Sa’ari, Majid, & Ismail, 2012. Quan điểm này dễ hiểu và có sự tương đồng với các quan điểm về khởi nghiệp trước đó. Ý định khởi nghiệp Entrepreneurial Intention Bird 1988 quan niệm ý định khởi nghiệp của một cá nhân là trạng thái tâm trí, trong đó hướng đến việc hình thành một hoạt động kinh doanh mới hay tạo lập một doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp cũng được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007. Kuckertz và Wagner 2010 khẳng định ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp. Zain, Akram, và Ghani 2010 cho rằng ý định khởi nghiệp thường liên quan đến nội tâm, hoài bão và cảm giác của cá nhân đối với việc “đứng trên đôi chân của mình”. Nghiên cứu của Dohse và Walter 2012 đã đưa ra một khái niệm súc tích và gần gũi hơn so với các nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp, trong đó ý định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí trong việc sẵn sàng thực hiện tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này cũng được hiểu theo quan điểm của Dohse và Walter 2012. Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen 1991 Lý thuyết về hành vi dự định của Ajzen 1991 - Ajzen's Theory of Planned Behavior TPB - là một sự mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý Theory of reasoned action mà Ajzen đã từng đưa ra trước đó, nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình ban đầu trong việc giải quyết kiểm soát hành vi. Lý thuyết này xác định ba tiền đề của ý định thái độ đối với hành vi attitude toward the behavior hay perceived attitude, các quy chuẩn chủ quan subjective norm và nhận thức kiểm soát hành vi perceived behaviorial control. Thái độ đối với hành vi đề cập đến mức độ mà một người đánh giá về hành vi đang được nói đến là có lợi hay không có lợi. “Các quy chuẩn chủ quan” đề cập đến nhận thức của cá nhân về các áp lực xã hội có ảnh hưởng đến việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Thêm vào đó, Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 173 Ajzen 1991 cũng cho rằng “thái độ đối với hành vi” và các “quy chuẩn chủ quan” phản ánh “nhận thức mong muốn” của việc thực hiện hành vi. Còn “nhận thức kiểm soát hành vi” phản ánh nhận thức rằng hành vi này có thể kiểm soát được một cách cá nhân hay không. Nói cách khác, “nhận thức kiểm soát hành vi” đề cập đến nhận thức của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi. Đây là yếu tố được Ajzen 1991 xem là quan trọng trong mô hình hành vi dự định, đồng thời cho thấy điểm khác biệt so với thuyết hành động hợp lý trước đó. Mô hình của Ajzen 1991 được sử dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu liên quan đến ý định khởi nghiệp của cá nhân. Trong nghiên cứu này, các yếu tố trong mô hình của Ajzen 1991 cũng được sử dụng để xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nghiên cứu nước ngoài Suan và cộng sự 2011 nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của 200 sinh viên đại học Malaysia. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol 1982 kết hợp một số yếu tố khác phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngoại trừ “gia đình và bối cảnh cá nhân”, các yếu tố còn lại là đặc điểm tính cách, giáo dục, kinh nghiệm và nhận thức mong muốn đều thể hiện sự tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu khảo sát nhỏ với 200 sinh viên và bỏ qua việc xem xét yếu tố thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng thế nào đến ý định khởi nghiệp. Nghiên cứu của Liñán, Rodríguez-Cohard, và Rueda-Cantuche 2011 tại Trường đại học Pablo Olavide và Seville Tây Ban Nha xác định giáo dục khởi nghiệp, thái độ cá nhân, quy chuẩn xã hội và nhận thức tính khả thi đều có sự tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Nghiên cứu có hạn chế là chỉ khảo sát trên đối tượng sinh viên thuộc các chuyên ngành kinh tế kinh doanh và kinh tế học mà bỏ qua sinh viên các nhóm ngành văn hóa hay xã hội. Còn kết quả nghiên cứu của Zhang và cộng sự 2014 tại 10 trường đại học ở Trung Quốc thể hiện ngoài yếu tố “nhận thức tính khả thi” không có sự ảnh hưởng thì ba yếu tố còn lại là nhận thức mong muốn, kinh nghiệm và giáo dục khởi nghiệp đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát đối với sinh viên đại học mà bỏ qua các đối tượng khác chẳng hạn sinh viên cao đẳng, học sinh trung cấp. Cùng lĩnh vực, nghiên cứu của Sabah 2016 được thực hiện thông qua khảo sát 528 sinh viên năm ba và năm tư ngành Quản trị kinh doanh 232 nam và 296 nữ đến từ ba thành phố của Thổ Nhĩ Kỳ Istanbul, Ankara và İzmir. Lý thuyết hành vi dự định Ajzen, 1991 được sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố trong mô hình đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, gồm thái độ đối với hành vi, nhận thức kiểm soát hành vi và quy chuẩn chủ quan. Còn Ambad và Damit 2016 thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Malaysia thông qua khảo sát 351 sinh viên đại học đến từ Trường Đại học cộng đồng Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố có sự ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là thái độ cá nhân ảnh hưởng mạnh nhất, quy chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Nghiên cứu trong nước Hoang và Bui 2013 đã thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của nữ học viên đang theo học chuyên ngành MBA tại TP. HCM. Kết quả nghiên cứu thể hiện các yếu tố như 174 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 nguồn vốn, đặc điểm cá nhân, hỗ trợ từ gia đình đều có sự ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Hạn chế của nghiên cứu là chỉ thực hiện khảo sát tại TP. HCM ở ba trường đại học mà bỏ qua khảo sát các nữ học viên MBA tại các trung tâm đào tạo bên ngoài khác quốc tế, đào tạo ngắn hạn…. Phan và Giang 2015 xây dựng mô hình ý định khởi nghiệp của sinh viên khoa kinh tế và Quản trị kinh doanh QTKD Trường Đại học Cần Thơ với các yếu tố tác động gồm thái độ, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục và nguồn vốn. Tuy nhiên mô hình nghiên cứu đã bỏ qua một số nhân tố khác, chẳng hạn như đặc điểm tính cách và kinh nghiệm. Do 2016 nghiên cứu ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên QTKD tại Trường Đại học Lao động – Xã hội, cơ sở TP. HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả bốn yếu tố tính cách cá nhân, giáo dục và đào tạo, kinh nghiệm và nguồn vốn đều ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Hạn chế của nghiên cứu là bỏ qua sự tác động của một số yếu tố khác như thái độ hoặc nhận thức của sinh viên về khởi nghiệp kinh doanh và bỏ qua các sinh viên các ngành khác. Tóm lại, với những hạn chế đã có ở các nghiên cứu trước và sự khuyến khích thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên ở nhiều vùng khác nhau do các nền văn hóa khác nhau thì sẽ cho kết quả nghiên cứu khác nhau Sabah, 2016, nghiên cứu này là cần thiết thực hiện. Nghiên cứu thực hiện trên đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối bậc đại học và cao đẳng thuộc tất cả các ngành đang được đào tạo tại trường. Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa theo lý thuyết của Ajzen 1991, nhưng có bổ sung các yếu tố từ các nghiên cứu trước sao cho phù hợp. Giả thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp Thái độ đối với hành vi Attitude toward the behavior Ajzen 1991 định nghĩa thái độ đối với hành vi là nhận thức về nhu cầu cá nhân đối với việc thực hiện hành vi. Đây cũng là mức độ mà cá nhân đánh giá hành vi được thực hiện có lợi hay không có lợi. Trong nghiên cứu này, hành vi được đề cập là hành vi khởi nghiệp. Autio, Keeley, Klofsten, Parker, và Hay 2001 khi nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại một số trường đại học ở các nước Bắc Âu và Mỹ đã kết luận rằng thái độ đối với hành vi là yếu tố có tầm ảnh hưởng tích cực quan trọng thứ hai đối với ý định khởi nghiệp. Tương tự, nghiên cứu của Lüthje và Franke 2003 cũng cho rằng thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ lên ý định khởi nghiệp của sinh viên. Còn kết quả nghiên cứu của Liñán và Chen 2009 tại Tây Ban Nha và Đài Loan thể hiện sự tác động của thái độ đối với hành vi lên ý định khởi nghiệp là một sự tác động cùng chiều, trong đó, thái độ của sinh viên tại Tây Ban Nha có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp. Từ các luận điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H1 như sau Giả thuyết H1 Thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Quy chuẩn chủ quan Subjective norm Quy chuẩn chủ quan được định nghĩa là các áp lực xã hội đến từ gia đình, bạn bè, người thân hay những người quan trọng đối với cá nhân…, áp lực này có thể là sự kỳ vọng, ủng hộ hoặc không ủng hộ thực hiện hành vi khởi nghiệp, từ đó dẫn đến việc cá nhân sẽ quyết định thực hiện hoặc không thực hiện hành vi sau này Ajzen, 1991. Bird 1988 kết luận một cá nhân sẽ lựa chọn thực hiện hành vi theo cách mà họ cảm nhận rằng những người khác trong xã hội mong chờ họ. Nghiên cứu của Autio và cộng sự 2001 hay nghiên cứu của Gird và Bagraim 2008 đều thể hiện sự tác động tích cực của quy chuẩn chủ quan đến ý định khởi nghiệp, mặc dù mức Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 175 độ ảnh hưởng không là mạnh mẽ nhất. Dựa vào các quan điểm trên, nghiên cứu đề xuất giải thuyết H2 như sau Giả thuyết H2 Quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nhận thức kiểm soát hành vi Perceived behavioral control Theo Ajzen 1991, nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa là quan niệm của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi, có liên quan đến những kinh nghiệm trong quá khứ cũng như dự đoán những trở ngại trong tương lai. Trong một bài phân tích tổng hợp của 185 nghiên cứu thực nghiệm, Armitage và Conner 2001 đã kết luận, nhận thức kiểm soát hành vi trong lý thuyết hành vi dự định rất có hiệu quả đối với việc thúc đẩy cả về ý định lẫn hành vi khởi nghiệp của cá nhân. Khi thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa thuyết hành vi dự định, các yếu tố môi trường, các yếu tố nhân khẩu học với ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Kenya, Amos và Alex 2014 đã chỉ ra rằng nhận thức kiểm soát hành vi là yếu tố có ý nghĩa cũng như ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc. Trước đó, nghiên cứu của Gird và Bagraim 2008 cũng cho một kết quả tương tự về tác động dương của nhận thức kiểm soát hành vi lên ý định khởi nghiệp của sinh viên. Dựa trên các luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H3 như sau Giả thuyết H3 Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Giáo dục khởi nghiệp Entrepreneurship education Isaacs, Visser, Friedrich, và Brijlal 2007 định nghĩa “giáo dục khởi nghiệp” là sự can thiệp có mục đích của các nhà giáo dục trong việc truyền đạt những kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết để người học có thể tồn tại được trong thế giới kinh doanh. Kuratko 2005 nhận định ý định khởi nghiệp sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi có sự tác động của hoạt động giảng dạy, đào tạo về khởi nghiệp tại trường đại học. Theo Turker và Selcuk 2009, nếu một trường đại học cung cấp đầy đủ kiến thức và nguồn cảm hứng cho sinh viên, đặc biệt là những kiến thức về khởi nghiệp thì ý định lựa chọn thực hiện khởi nghiệp sẽ tăng lên. Nghiên cứu của Wang và Wong 2004 cũng chỉ ra rằng giáo dục khởi nghiệp có sự ảnh hưởng tích cực đáng kể đến ý định tự kinh doanh. Từ những luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H4 như sau Giả thuyết H4 Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Kinh nghiệm Experience Theo Obschonka, Silbereisen, và Schmitt-Rodermund 2010, kinh nghiệm trong nghiên cứu về khởi nghiệp được hiểu là những trải nghiệm trong việc làm của sinh viên làm bán thời gian, hợp đồng… có liên quan đến kinh doanh. T. T. Nguyen 2015 và Do 2016 bổ sung thêm kinh nghiệm còn là trải nghiệm với các vị trí quản lý mà sinh viên từng đảm nhiệm chẳng hạn quản lý cấp lớp, cấp đoàn thể trong nhà trường, câu lạc bộ…. Như vậy, kinh nghiệm trong đề tài này sẽ được hiểu đồng thời theo quan điểm của các nghiên cứu trên. Devonish, Alleyne, Charles-Soverall, Young, Marshall, và Pounder 2010 đã đưa ra kết luận các kinh nghiệm liên quan đến kinh doanh, bán hàng của cá nhân có ảnh hưởng cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của cá nhân đó sau này. Nghiên cứu của Suan và cộng sự 2011 tại Malaysia cho rằng kinh nghiệm của sinh viên có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Rasli, Khan, Malekifar, và Jabeen 2013 cũng cho một kết quả nghiên cứu tương tự về tầm ảnh hưởng của kinh nghiệm đến ý định khởi nghiệp. Dựa trên những luận điểm này, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H5 như sau 176 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Giả thuyết H5 Kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đặc điểm tính cách Personality traits Theo Nga và Shamuganathan 2010, đặc điểm tính cách của một cá nhân được định nghĩa là mô thức thường xuyên của hành vi, suy nghĩ hay cảm xúc. Đây là những đặc điểm bền vững, giải thích cho sự khác biệt của hành vi trong những tình huống tương tự nhau. Kickul và Gundry 2002 khi nghiên cứu về đặc điểm tính cách đã đo lường yếu tố này với các biến quan sát liên quan đến sự đối mặt và vượt qua trở ngại, giỏi xác định cơ hội và thích được thử thách với hiện trạng. Trong đề tài này, đặc điểm tính cách sẽ được đo lường theo hướng tính cách chủ động dựa trên quan điểm của Kickul và Gundry 2002. Nghiên cứu của Suan và cộng sự 2011 khẳng định rằng có một sự ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ của đặc điểm tính cách lên ý định khởi nghiệp. Còn Karabulut 2016 cũng đưa ra mối quan hệ cùng chiều về tác động của đặc điểm tính cách cá nhân đối với ý định khởi nghiệp. Như vậy, dựa vào những luận điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H6 như sau Giả thuyết H6 Đặc điểm tính cách có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Nguồn vốn Capital Theo Mazzarol, Volery, Doss, và Thein 1999, nguồn vốn là một khía cạnh hay một đặc điểm kinh tế. Trong nghiên cứu ở đây, nguồn vốn được hiểu là tiền được sử dụng cho hoạt động khởi nghiệp. Nguồn vốn có thể đến từ sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, từ sự vay mượn, từ sự tiết kiệm của cá nhân hoặc các nguồn hỗ trợ khác. Nghiên cứu của Mazzarol và cộng sự 1999 cho rằng nguồn vốn sẵn có nằm trong nhóm yếu tố môi trường kinh tế tác động dương đến ý định khởi nghiệp. Zain và cộng sự 2010 đã xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong đó có yếu tố về nguồn vốn, và kết quả thể hiện sự ảnh hưởng tích cực của nguồn vốn lên ý định khởi nghiệp. Từ những quan điểm trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H7 như sau Giả thuyết H7 Nguồn vốn có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất Nhận thức kiểm soát hành vi Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 177 3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính Thực hiện thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi. Trong đó, đối tượng thảo luận là các sinh viên năm cuối ngành Quản Trị Kinh Doanh QTKD, các giảng viên thuộc bộ môn QTKD làm việc tại trường thảo luận nhóm và cựu sinh viên của trường đã khởi nghiệp thành công thảo luận tay đôi. Trong mỗi buổi thảo luận, ý kiến của các thành viên tham gia đều được ghi nhận đầy đủ làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình và thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu định tính thể hiện các thành viên tham gia thảo luận đều thống nhất bảy yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang bao gồm thái độ đối với hành vi, quy chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, đặc điểm tính cách và nguồn vốn. Về thang đo, các thành viên tham gia thảo luận có góp ý điều chỉnh câu văn cho phù hợp; bổ sung ba biến trong mỗi thang đo của yếu tố quy chuẩn chủ quan, giáo dục khởi nghiệp và đặc điểm tính cách. Nghiên cứu định lượng Tổng thể nghiên cứu Là tất cả các sinh viên năm cuối năm ba cao đẳng và năm tư đại học đang học tại Trường Đại học Tiền Giang. Theo số liệu thống kê từ phòng công tác sinh viên đến tháng 11/2019, trường Đại học Tiền Giang có 1,035 sinh viên năm cuối. Lý do chọn đối tượng này vì đây là nhóm sinh viên đã có một thời gian dài học tập tại trường, đã được tiếp cận với kiến thức chuyên ngành cũng như hiểu biết rõ về các hoạt động của nhà trường. Ngoài ra, nhóm sinh viên này đang trong giai đoạn lựa chọn nghề nghiệp hoặc bắt đầu nghĩ đến những định hướng nghề nghiệp tương lai. Kích thước mẫu Theo T. D. Nguyen 2011, kích thước mẫu cần cho nghiên cứu định lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như phương pháp xử lý dữ liệu hồi quy, phân tích nhân tố khám phá EFA hay độ tin cậy cần thiết. T. D. Nguyen 2011 cho rằng để thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước mẫu sẽ được tính bởi công thức n = k * số biến quan sát trong đó, k là tỷ lệ quan sát/biến quan sát, k thường là 5/1. Với số biến quan sát của mô hình nghiên cứu là 44 và hệ số k là 5/1 thì kích thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 220. Cũng theo T. D. Nguyen 2011, để thực hiện phân tích hồi quy bội, kích thước mẫu thường được tính theo công thức n 50 + 8k trong đó, k là số biến độc lập của mô hình. Với số biến độc lập của mô hình nghiên cứu là bảy thì kích thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 106. Như vậy, xét các yêu cầu của phân tích EFA cũng như phân tích hồi quy bội, đồng thời xét giới hạn về mặt thời gian, số quan sát của nghiên cứu là 280 sẽ phù hợp. Chọn mẫu Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất với kỹ thuật chọn mẫu định mức bởi sự thuận tiện về mặt thời gian và chi phí, trong đó chọn mẫu định mức sẽ thực hiện phân nhóm tổng thể theo hai thuộc tính kiểm soát là bậc đào tạo cao đẳng và đại học và khoa 178 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 quản lý ngành đào tạo, rồi thực hiện chọn mẫu thuận tiện khảo sát đối tượng có thể tiếp cận được. Cũng theo số liệu thống kê đến tháng 11/2019 của phòng công tác sinh viên, tỷ lệ sinh viên đại học là và cao đẳng là Các khoa quản lý ngành đào tạo gồm các ngành thuộc khoa Kinh tế - Luật KT-L, các ngành thuộc khoa Kỹ Thuật và Công Nghệ Thông Tin KT & CNTT, các ngành thuộc khoa Nông Nghiệp và Công Nghệ Thực Phẩm NN & CNTP, các ngành thuộc khoa Sư Phạm và Xã Hội Nhân Văn SP & XHNV, có tỷ lệ sinh viên lần lượt là Như vậy, chọn mẫu định mức với 280 sinh viên phân bổ theo bậc đào tạo và khoa quản lý ngành sẽ có 08 kết hợp là 2bậc đào tạo * 4khoa quản lý ngành. Bảng 1 Bảng chọn mẫu định mức theo bậc đào tạo và khoa quản lý ngành đào tạo Khoa quản lý ngành đào tạo Nguồn công thức tính toán T. D. Nguyen 2011 Thu thập dữ liệu Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Thang đo Likert 5 mức độ, trong đó 1 = rất không đồng ý, 2 = không đồng ý, 3 = trung lập, 4 = đồng ý và 5 = rất đồng ý, được dùng để đo lường mức độ đồng ý của người được khảo sát cho từng phát biểu. Phân tích dữ liệu Dữ liệu sẽ được nhập, mã hoá, làm sạch và phân tích thông qua thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA Exploratory Factor Analysis và hồi quy tuyến tính đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả mẫu khảo sát Tổng số phiếu phát ra là 280 phiếu. Sau khi kiểm tra, có 10 phiếu không hợp lệ do đối tượng khảo sát không trả lời đầy đủ các thông tin trong bảng câu hỏi hoặc với cùng một phát biểu nhưng chọn nhiều mức độ khác nhau. Như vậy, số phiếu còn lại hợp lệ được dùng để đưa vào phân tích là 270 phiếu. Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 179 Bảng 2 Thống kê mô tả mẫu khảo sát Khoa quản lý ngành đào tạo Tình trạng tham gia các hoạt động liên quan đến khởi nghiệp Nguồn Kết quả xử lý SPSS Thống kê mô tả thang đo Bảng 3 Thống kê mô tả các thang đo Thang đo “Thái độ đối với hành vi” Việc trở thành chủ doanh nghiệp đối với anh/chị có lợi hơn bất lợi Chủ doanh nghiệp là một nghề rất hấp dẫn đối với anh/chị Anh/chị sẽ rất hài lòng khi làm chủ doanh nghiệp Trong số các lựa chọn công việc khác nhau, anh/chị thích kinh doanh Thang đo “Quy chuẩn chủ quan” Gia đình luôn ủng hộ công việc của anh/chị Bạn bè luôn ủng hộ công việc của anh/chị Những người quan trọng khác đối với anh/chị luôn 180 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 ủng hộ công việc của anh/chị Anh/chị biết nhiều doanh nhân thành công Anh/chị rất ngưỡng mộ những doanh nhân thành công Anh/chị thường nghiên cứu các doanh nhân thành công Thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” Anh/chị nhận thấy thật dễ dàng để bắt đầu kinh doanh Anh/chị biết cách để phát triển một dự án kinh doanh Anh/chị biết cụ thể những việc cần làm để tiến hành kinh doanh Anh/chị có thể kiểm soát được quá trình hoạt động của một doanh nghiệp mới Nếu anh/chị cố gắng, anh/chị sẽ thành công trong việc kinh doanh Thang đo “Giáo dục khởi nghiệp” Tại trường đại học, anh/chị được cung cấp những kiến thức cần thiết về kinh doanh Tại trường đại học, anh/chị được cung cấp những kỹ năng cần thiết về kinh doanh Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích phát triển những ý tưởng kinh doanh sáng tạo Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích tham gia cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” Tại trường đại học, anh/chị được khuyến khích tham gia các lớp tập huấn “Khởi sự kinh doanh” Anh/chị thường tự học để có kiến thức kinh doanh Anh/chị đã từng làm công việc liên quan đến kinh doanh Anh/chị đã từng tham gia công tác quản lý cán bộ lớp, cán bộ Đoàn,… Anh/chị đã từng là thành viên của câu lạc bộ kinh doanh trong hoặc ngoài nhà trường Anh/chị đã từng tham gia các hoạt động ngoại khóa tại các doanh nghiệp Anh/chị đã từng tham gia các buổi hội thảo về kinh doanh Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 181 Thang đo “Đặc điểm tính cách” Anh/chị là người dám đối mặt với trở ngại Anh/chị là người dám vượt qua mọi trở ngại Anh/chị là người rất giỏi trong việc xác định các cơ hội Anh/chị là người thích được thử thách với những nhiệm vụ khó khăn Anh/chị là người dám chấp nhận rủi ro Anh/chị là người có tính sáng tạo Anh/chị là người thích tự lập Anh/chị có thể vay, mượn tiền từ gia đình và bạn bè Anh/chị có thể vay tiền từ các tổ chức tài chính như ngân hàng, quỹ tín dụng Anh/chị có thể tích lũy vốn từ việc làm thêm hoặc tiết kiệm Địa phương anh/chị có các chính sách hỗ trợ vốn cho thanh niên Anh/chị dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn Thang đo “Ý định khởi nghiệp” Mục tiêu nghề nghiệp của anh/chị là khởi sự kinh doanh Anh/chị có mong muốn mạnh mẽ để khởi sự kinh doanh trong tương lai Anh/chị muốn là người chủ doanh nghiệp hơn là nhân viên Anh/chị có sự suy nghĩ nghiêm túc về việc khởi sự kinh doanh sau này Anh/chị sẵn sàng làm mọi việc cần thiết để khởi sự kinh doanh Nếu có cơ hội, anh/chị sẽ khởi sự kinh doanh Nguồn Kết quả xử lý SPSS Kiểm định độ tin cậy của thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha Theo T. D. Nguyen 2011, một thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy nếu Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến - tổng của biến quan sát lớn hơn Về lý thuyết, hệ số Cronbach’s Alpha càng lớn thì thang đo có độ tin cậy càng cao. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá lớn > thì lại cho thấy nhiều biến trong thang đo không có khác biệt nhau. Còn 182 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 theo Hoang và Chu 2008, nếu hệ số Cronbach Alpha từ trở lên là có thể sử dụng được. Vậy, để kiểm định chất lượng thang đo, nghiên cứu sử dụng Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến - tổng > Nghiên cứu đã tiến hành thực hiện phân tích độ tin cậy của thang đo 02 lần. Sau khi thực hiện phân tích độ tin cậy thang đo lần 01, các biến quan sát QC6, KS5, KN5, TC3, TC6 và NV5 đều bị loại do có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn Sau thực hiện phân tích độ tin cậy thang đo lần 02, các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy để tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA. Bảng 4 Bảng Cronbach’s Alpha thang đo các biến lần 02 Trung bình thang đo nếu loại biến Hệ số tương quan biến-tổng Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến Thang đo “Thái độ đối với hành vi” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Quy chuẩn chủ quan” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Giáo dục khởi nghiệp” - Hệ số Cronbach's Alpha Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 183 Trung bình thang đo nếu loại biến Hệ số tương quan biến-tổng Hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến Thang đo “Kinh nghiệm” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Đặc điểm tính cách” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Nguồn vốn” - Hệ số Cronbach's Alpha Thang đo “Ý định khởi nghiệp” - Hệ số Cronbach's Alpha Nguồn Kết quả xử lý SPSS Phân tích nhân tố khám phá – EFA a. Phân tích EFA các biến độc lập Hệ số KMO = > đồng thời căn cứ vào kiểm định Bartlett với Sig. = 1, nghiên cứu xác định có bảy nhân tố được trích ra từ dữ liệu khảo sát với tổng phương sai trích cumulative % là > 50%. Ma trận xoay nhân tố Rolated Component Matrix với phép xoay Varimax xác định cụ thể bảy nhóm nhân tố như sau 184 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Bảng 5 Bảng ma trận xoay nhân tố các biến độc lập EFA lần 02 Nguồn Kết quả xử lý SPSS Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 185 - Nhân tố 1 bao gồm các biến quan sát GD1, GD2, GD3, GD4, GD5, GD6. Nhân tố này được đặt tên là “Giáo dục khởi nghiệp” ký hiệu GD. - Nhân tố 2 bao gồm các biến quan sát QC1, QC2, QC3, QC4, QC5. Nhân tố này được đặt tên là “Quy chuẩn chủ quan” ký hiệu QC. - Nhân tố 3 bao gồm các biến quan sát TC1, TC2, TC4, TC5, TC7. Nhân tố này được đặt tên là “Đặc điểm tính cách” ký hiệu TC. - Nhân tố 4 bao gồm các biến quan sát NV1, NV2, NV3, NV4. Nhân tố này được đặt tên là “Nguồn vốn” ký hiệu NV. - Nhân tố 5 bao gồm các biến quan sát TD1, TD2, TD3, TD4. Nhân tố này được đặt tên là “Thái độ đối với hành vi” ký hiệu TD. - Nhân tố 6 bao gồm các biến quan sát KS2, KS3, KS4. Nhân tố này được đặt tên là “Nhận thức kiểm soát hành vi” ký hiệu KS. - Nhân tố 7 bao gồm các biến quan sát KN1, KN2, KN3. Nhân tố này được đặt tên là “Kinh nghiệm” ký hiệu KN. b. Phân tích EFA biến phụ thuộc Hệ số KMO = > kiểm định Bartlett với Sig. = 1 cho thấy sự hội tụ của phép phân tích dừng ở nhân tố thứ nhất, tổng phương sai trích cumulative % là > 50%, hệ số tải nhân tố đều lớn hơn Như vậy, kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc thể hiện có một nhân tố được rút trích từ sáu biến quan sát của thang do ý định khởi nghiệp, và nhân tố này giải thích đến sự biến thiên của bộ dữ liệu. Từ kiểm định KMO và Bartlett, phân tích EFA trong nghiên cứu này là phù hợp. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến Phân tích tương quan Bảng 6 Ma trận hệ số tương quan Pearson Nguồn Kết quả xử lý SPSS 186 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Theo kết quả từ Bảng 6, các biến độc lập đều có tương quan với biến phụ thuộc, còn hệ số tương quan giữa các biến độc lập là rất thấp nên không phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến. Tuy nhiên, việc kiểm tra đa cộng tuyến khi phân tích hồi quy vẫn được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Kiểm định sự phù hợp của mô hình Bảng 7 Bảng tóm tắt mô hình Nguồn Kết quả xử lý SPSS R2 hiệu chỉnh = có nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu đến Ngoài ra, giá trị Sig. = mức ý nghĩa 5%, giả thuyết H1 và H7 không được chấp nhận. Các biến độc lập còn lại đều có ý nghĩa thống kê do có giá trị Sig. = trong kiểm định T T-test, giá trị Sig. = trong kiểm định T T-test, giá trị Sig. = > mức ý nghĩa 5% nên không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp của sinh viên bậc cao đẳng và sinh viên bậc đại học tại trường. Theo tình trạng tham gia các hoạt động liên quan đến khởi nghiệp Kiểm định Levene có giá trị Sig. = 0,981 > trong kiểm định T T-test, giá trị Sig. = > mức ý nghĩa 5% nên không có sự khác biệt về ý định khởi nghiệp giữa những sinh viên có tham gia và không có tham gia các hoạt động liên quan khởi nghiệp. Thảo luận Kết quả nghiên cứu cho thấy có năm nhân tố ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Trường Đại học Tiền Giang, được sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dần bao gồm đặc điểm tính cách β = giáo dục khởi nghiệp β = kinh nghiệm β = nhận thức kiểm soát hành vi β = và quy chuẩn chủ quan β = Không giống nhiều nghiên cứu trước Ambad & Damit, 2016; Hoang & Bui, 2013; Phan & Giang, 2015; Sabah, 2016, nghiên cứu này kết luận “nguồn vốn” và “thái độ đối với hành vi” không có ý nghĩa thống kê. Đối với đặc điểm tính cách Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh nhất so với các nhân tố còn lại β = Nhân tố này trong nghiên cứu được xem xét trên phương diện của tính cách chủ động, rất cần có ở người muốn khởi nghiệp kinh doanh. Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện đặc điểm tính cách có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H7 được chấp nhận. Nếu sinh viên của trường được trau dồi, rèn luyện để hình thành những đặc điểm tính cách chủ động như bản lĩnh dám đối mặt với trở ngại, tính tự lập, dám chấp nhận rủi ro, … thì ý định khởi nghiệp của sinh viên càng trở nên mạnh mẽ. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đây của Suan và cộng sự 2011 hay nghiên cứu của Hoang và Bui 2013. Đối với giáo dục khởi nghiệp Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ hai β = Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H4 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu sinh viên càng nhận được nhiều sự giáo dục về khởi nghiệp tại trường đại học thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng sẽ tăng lên. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đây của Suan và cộng sự 2011 hay Zhang và cộng sự 2014. Thực tế trong thời gian qua, nhà trường luôn quan tâm đến việc phát triển những ý tưởng kinh doanh 188 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 sáng tạo trong sinh viên thông qua cuộc thi “Sinh viên khởi nghiệp” hay các lớp học ngắn hạn về lập kế hoạch kinh doanh. Giáo dục khởi nghiệp tại trường không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng kinh doanh cho sinh viên mà còn định hướng thái độ đúng đắn đối với khởi nghiệp. Đối với kinh nghiệm Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ ba β = Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H5 được chấp nhận. Như vậy, những sinh viên nào đã từng trải nghiệm với các hoạt động kinh doanh, bán hàng hoặc quản lý lớp, câu lạc bộ, … tại trường đại học thì ý định khởi nghiệp của sinh viên đó sẽ càng mạnh mẽ. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Suan và cộng sự 2011 hay Do 2016. Sự trải nghiệm đối với các hoạt động kinh doanh thực tiễn hay tham gia các chương trình thực tập sinh tại các công ty, doanh nghiệp… là rất quan trọng để giúp sinh viên biết được mình cần phải làm những gì khi lựa chọn con đường khởi nghiệp kinh doanh sau này. Đối với nhận thức kiểm soát hành vi Đây là nhân tố có mức độ tác động mạnh thứ tư β = Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H3 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu nhận thức kiểm soát hành vi của sinh viên tăng thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng tăng theo. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đó của Ambad và Damit 2016, Sabah 2016 hay Phan và Giang 2015. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của nhận thức kiểm soát hành vi trong nghiên cứu này không được mạnh mẽ so với các nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, nhiều sinh viên chưa biết cách phát triển một dự án kinh doanh thực tế cũng như cách thức kiểm soát quá trình hoạt động của một doanh nghiệp mới nên sự đánh giá của sinh viên nhà trường đối với nhân tố này không cao trung bình đánh giá thang đo của nhân tố này là thấp nhất trong các thang đo. Đối với quy chuẩn chủ quan Kết quả phân tích hồi quy bội thể hiện quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp và giả thuyết H2 được chấp nhận. Điều này có nghĩa, nếu sinh viên nhận được nhiều sự ủng hộ từ gia đình, người thân, bạn bè hay những người quan trọng khác thì ý định khởi nghiệp của sinh viện cũng sẽ tăng lên. Đây là nhân tố có mức độ tác động yếu nhất trong các nhân tố β = Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ambad và Damit 2016, Sabah 2016, hay nghiên cứu của Phan và Giang 2015. Xét một đất nước với nền văn hóa Á Đông như Việt Nam thì suy nghĩ và hành động của cá nhân thường chịu tác động bởi ý kiến của những người xung quanh. Đặc biệt, sinh viên phần lớn là những người đã có thời gian dài sống với gia đình, phụ thuộc vào gia đình thì ý kiến cũng như quan điểm của gia đình có sự ảnh hưởng nhất định đến ý định khởi nghiệp của sinh viên sau này. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo Nghiên cứu chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng là sinh viên năm cuối mà bỏ qua các đối tượng sinh viên năm nhất hay năm hai, năm ba. Các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng khảo sát thêm trên các đối tượng sinh viên này để có sự so sánh, đánh giá khách quan hơn về ý định khởi nghiệp. Bên cạnh đó, các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu chỉ giải thích được sự biến thiên của biến phụ thuộc. Điều này có nghĩa mặc dù mô hình nghiên cứu là phù hợp nhưng vẫn còn thuộc về các nhân tố khác chưa được đề cập trong mô hình, chẳng hạn như chính sách địa phương. Các nghiên cứu tiếp theo cần xem xét thêm các nhân tố ảnh hưởng sao cho phù hợp. Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 189 5. Kết luận và hàm ý quản trị Kết luận Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu khi xác định năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tiền Giang thông qua phân tích dữ liệu của 270 phiếu khảo sát sinh viên năm cuối. Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm tính cách, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, nhận thức kiểm soát hành vi và quy chuẩn chủ quan. Cùng với nguồn vốn thì thái độ đối với hành vi – một trong ba yếu tố của thuyết hành vi dự định của Ajzen 1991 – lại không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu khác cùng lĩnh vực được thực hiện sau này. Ngoài ra, nghiên cứu cũng có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với nhà trường trong việc mang đến cái nhìn toàn diện, mới mẻ về ý định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đề ra những chính sách thích hợp nhằm phát huy hơn nữa tinh thần khởi nghiệp đúng đắn trong sinh viên thời gian tới. Hàm ý quản trị Một số hàm ý quản trị được đề xuất để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên Xét về đặc điểm tính cách Việc phát triển những đặc điểm tính cách chủ động cho sinh viên cần được chú trọng và tập trung vào các khía cạnh như bản lĩnh đối mặt với trở ngại, thích được thử thách và dám chấp nhận rủi ro. Các hoạt động ngoại khóa nên được nhà trường tổ chức mới hơn, không chỉ đơn thuần mang tính giải trí mà còn mang đến cho sinh viên cảm giác được thử thách chính mình. Bên cạnh những nỗ lực của nhà trường thì sự cố gắng rèn luyện và trau dồi của chính sinh viên là điều không thể thiếu. Sinh viên phải mạnh dạn tham gia nhiều phong trào, cọ xát thực tế thì mới có được bản lĩnh vượt qua mọi rào cản. Xét về giáo dục khởi nghiệp Các lớp tập huấn “khởi sự kinh doanh” phải hướng đến sinh viên nhiều ngành chứ không chỉ dành riêng cho sinh viên kinh tế. Và các lớp này cũng cần được đổi mới theo hướng gia tăng thời lượng kết hợp nâng cao chất lượng và có cấp chứng nhận, thay vì chỉ là các lớp ngắn hạn 03 – 05 ngày như hiện nay. Ngoài ra, định hướng xây dựng riêng một chương trình đào tạo “Quản trị khởi nghiệp” cũng cần được nhà trường xem xét. Nhà trường phải xác định rõ giảng dạy khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm kinh doanh mà còn phải truyền được nhiệt huyết, sự yêu thích và đam mê. Xét về kinh nghiệm Nhà trường cần chú trọng hỗ trợ sinh viên nhiều hơn trong việc giới thiệu việc làm thêm cũng như quản lý việc làm thêm để sinh viên tích lũy kinh nghiệm. Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp là rất cần thiết nhằm xây dựng nhiều hơn các chương trình thực tập sinh, kiến tập kinh doanh tại các công ty, doanh nghiệp. Kế hoạch thành lập một câu lạc bộ khởi nghiệp cần được nhà trường xem xét. Đó sẽ là mái nhà chung cho những sinh viên yêu thích kinh doanh và muốn rèn luyện, phát triển bản thân với những kỹ năng, kiến thức kinh doanh hữu ích. Xét về nhận thức kiểm soát hành vi Nhận thức tích cực, đúng đắn về khả năng đối với khởi nghiệp rất quan trọng. Để có thể hỗ trợ sinh viên về vấn đề này thì định hướng giảng dạy dự án kinh doanh hay kế hoạch khởi nghiệp kinh doanh của nhà trường hiện tại cần thay đổi theo hướng thiết thực hơn khi mô phỏng một dự án thực tế và giảm lý thuyết. Riêng bản thân sinh viên cũng phải dành thời gian nghiên cứu thêm về các kiến thức kinh doanh liên quan, đặc biệt cập nhật những quy định mới của Nhà 190 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 nước về việc thành lập doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ... Xét về quy chuẩn chủ quan Đây là yếu tố mang tính chất xã hội nên vai trò của các tổ chức đoàn thể rất quan trọng. Các hoạt động tuyên truyền hay thực hiện tọa đàm nêu gương những doanh nhân khởi nghiệp thành công sẽ giúp khởi nghiệp được biết đến một cách rộng hơn và được hiểu một cách đúng đắn hơn, từ đó sự ủng hộ của mọi người dành cho khởi nghiệp sẽ tăng lên. Tiền Giang rất cần một “Trung tâm hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp” do tỉnh đoàn và đoàn Trường Đại học Tiền Giang phối hợp thành lập. Có như vậy, khởi nghiệp không còn bị coi là một hoạt động ngẫu hứng, tự phát mà là một hoạt động được sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan chức năng, từ đó sự ủng hộ khởi nghiệp cũng được nâng cao. Tài liệu tham khảo Ajzen, I. 1991. The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 502, 179-211. Ambad, S. N. A., & Damit, D. H. D. A. 2016. Determinants of entrepreneurial intention among undergraduate students in Malaysia. Procedia Economics and Finance, 372016, 108-114. Amos, A., & Alex, K. 2014. Theory of planned behaviour, contextual elements, demographic factors and entrepreneurial intentions of students in Kenya. European Journal of Business and Management, 615, 167-175. Armitage, C. J., & Conner, M. 2001. Efficacy of the theory of planned behavior A meta‐analytic review. British Journal of Social Psychology, 404, 471-499. Autio, E., Keeley, R. H., Klofsten, M., Parker, G. G. C., & Hay, M. 2001. Entrepreneurial intent among students in Scandinavia and in the USA. Enterprise and Innovation Management Studies, 22, 145-160. Bird, B. 1988. Implementing entrepreneurial ideas The case for intention. Academy of Management Review, 133, 442-453. Devonish, D., Alleyne, P., Charles-Soverall, W., Young, Marshall, A., & Pounder, P. 2010. Explaining entrepreneurial intentions in the Caribbean. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 162, 149-171. Do, L. T. H. 2016. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lao động – Xã hội cơ sở thành phố Hồ Chí Minh [Factors affecting the intention to start a business of business administration students at the University of Labor and Social Affairs Ho Chi Minh City campus]. Tạp chí khoa học Yersin, 1, 44-53. Dohse, D., & Walter, S. G. 2012. Knowledge context and entrepreneurial intentions among students. Small Business Economics, 394, 877-895. Gird, A., & Bagraim, J. J. 2008. The theory of planned behaviour as predictor of entrepreneurial intent amongst final-year university students. South African Journal of Psychology, 384, 711-724. Hisrich, R. D., & Drovensek, M. 2002. Entrepreneurship and small business research A european perspective. Journal of Small Business and Enterprise Development, 92, 171-222. Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 191 Hoang, T. T. P., & Bui, C. T. T. 2013. Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP. Hồ Chí Minh [The intention of starting a business of female MBA students in Ho Chi Minh City]. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 2712013, 10-12. Hoang, T., & Chu, N. N. M. 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS [Analyze research data with SPSS]. Ho Chi Minh, Vietnam Nhà xuất bản Hồng Đức. Isaacs, E., Visser, K., Friedrich, C., & Brijlal, P. 2007. Entrepreneurship education and training at the Further Education and Training FET level in South Africa. South African Journal of Education, 274, 613-629. Karabulut, A. T. 2016. Personality traits on entrepreneurial intention. Procedia – Social and Behavioral Sciences, 2292016, 12-21. Kickul, J., & Gundry, L. 2002. Prospecting for strategic advantage The proactive entrepreneurial personality and small firm innovation. Journal of Small Business Management, 402, 85-97. Koe, W. L., Sa’ari, J. R., Majid, I. A., & Ismail, K. 2012, Determinants of entrepreneurial intention among millennial generation. Procedia - Social and Behavioral Sciences, 402012, 197-208. Krueger, N. F., & Brazeal, D. V. 1994. Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs. Entrepreneurship Theory and Practice, 183, 91-104. Kuckertz, A., & Wagner, M. 2010. The influence of sustainability orientation on entrepreneurial intentions - Investigating the role of business experience. Journal of Business Venturing, 255, 524-539. Kuratko, D. F. 2005. The emergence of entrepreneurship education Development, trends, and challenges. Entrepreneurship Theory and Practice, 295, 577-598. Liñán, F., & Chen, Y. W. 2009. Development and cross‐cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 333, 593-617. Liñán, F., Rodríguez-Cohard, J. C., & Rueda-Cantuche, J. M. 2011. Factors affecting entrepreneurial intention levels A role for education. International Entrepreneurship and Management Journal, 72, 195-218. Lüthje, C., & Franke, N. 2003. The making’of an entrepreneur Testing a model of entrepreneurial intent among engineering students at MIT. R&D Management, 332, 135-147. MacMillan, I. C. 1993. The emerging forum for entrepreneurship scholars. Journal of Business Venturing, 85, 377-381. Mazzarol, T., Volery, T., Doss, N., & Thein, V. 1999. Factors influencing small business start-ups A comparison with previous research. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 52, 48-63. Nga, J. K. H., & Shamuganathan, G. 2010. The influence of personality traits and demographic factors on social entrepreneurship start up intentions. Journal of Business Ethics, 952, 259-282. Nguyen, T. D. 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh [Scientific research methods in business]. Ho Chi Minh City, Vietnam Nhà xuất bản Lao động xã hội. 192 Võ V. Hiền, Lê H. V. Trang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 162, 170-192 Nguyen, T. T. 2015. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học [Research on factors influencing college students' entrepreneurial potential]. Unpublished doctoral dissertation. National Economics University, Hanoi, Vietnam. Obschonka, M., Silbereisen, R. K., & Schmitt-Rodermund, E. 2010. Entrepreneurial intention as developmental outcome. Journal of Vocational Behavior, 771, 63-72. Phan, T. A., & Giang, T. T. C. 2015. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp Trường hợp sinh viên Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ [Research on factors affecting the intention to start a business The case of students of the Faculty of Economics and Business Administration, Can Tho University]. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 402015, 59-66. Phòng Công tác sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. 2019. Báo cáo tình hình học tập của sinh viên học kỳ 1 năm học 2019 – 2020 [Report on the learning situation of students in the first semester of the academic year 2019-2020]. Tien Giang, Vietnam Phòng Công tác sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Rasli, A. M., Khan, S. U. R., Malekifar, S., & Jabeen, S. 2013. Factors affecting entrepreneurial intention among graduate students of Universiti Teknologi Malaysia. International Journal of Business and Social Science, 42, 182-188. Sabah, S. 2016. Entrepreneurial intention Theory of planned behaviour and the moderation effect of start-up experience. In M. Franco Ed., Entrepreneurship-practice – Oriented perspectives pp. 87-101. doi Shapero, A., & Sokol, L. 1982. Some social dimensions of entrepreneurship. In C. A. Kent Ed., Encyclopedia of entrepreneurship pp. 72-90. Englewood Cliffs, NJ Prentice-Hall. Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. 2007. Do entrepreneurship programmes raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning, inspiration and resources. Journal of Business Venturing, 224, 566-591. Suan, C. T., Ai, Y. J., Raman, K., Loon, K. W., & Tanumihardja, J. 2011. Entrepreneurial intentions among university students. Business & Management Quarterly Review, 23, 33-38. Thủ Tướng Chính phủ. 2017. Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc phê duyệt đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” [Decision No. 1665/QD-TTg dated October 30, 2017 approving the project “Supporting students and students to start a business by 2025”]. Retrieved May 10, 2020, from Turker, D., & Selcuk, S. S. 2009. Which factors affect entrepreneurial intention of university students? Journal of European Industrial Training, 332, 142-159. Wang, C. K., & Wong, P. K. 2004. Entrepreneurial interest of university students in Singapore. Technovation, 242, 163-172. Zain, Z. M., Akram, A. M., & Ghani, E. K. 2010. Entrepreneurship intention among malaysian business students. Canadian Social Science, 63, 34-44. Zhang, Y., Duysters, G., & Cloodt, M. 2014. The role of entrepreneurship education as a predictor of university students’ entrepreneurial intention. International Entrepreneurship and Management Journal, 103, 623- 641. Nguyen Vo Thy ThyPhan Ngoc Nhu Hoang LongPhung Thi XoanThis study aims to investigate the effects of barriers on entrepreneurial intention among Economics and Management students in Ho Chi Minh City and then analyze and evaluate the impact of these barriers. The authors used 3 main models entrepreneurial Event Model-EEM, Model of Implementing Entrepreneurial Ideas, and Theory of Planned Behavior-TPB. The data were collected from 312 students at Economics and Management universities in Ho Chi Minh City. Next, the authors employed quantitative method such as descriptive statistics, exploratory factor analysis EFA, confirmatory factor analysis CFA, HTMT test, structural equation modeling SEM, Bootstrapping, and Kruskal-Wallis test using SPSS 20 and AMOS 24 software. The results showed that 4 independent variables had an effect on entrepreneurial intention, including Mental Barriers, Market Barriers, Educational Environment Barriers, and Knowledge Barriers. Particularly, Mental Barriers were seen as the most influential barriers to entrepreneurial intention. It was implied that the spirit, knowledge, and business environment were really a concern for students in the start-up stage, and educational background such as knowledge and encouragement of teachers also affected the entrepreneurial intention of Economics and Management students. Additionally, there were 5 groups with statistically significant differences in the students' Entrepreneurial Intentions 1 Gender, 2 School year, 3 University, 4 Major, and 5 Parents' careers. The study has filled a research gap by providing important insights into the barriers to entrepreneurial intention among Economics and Management students in Ho Chi Minh City. In practical terms, it helps students recognize obstacles and how to overcome them when making decisions while establishing a business. This study also provides educators and policymakers with solutions and governance implications for driving students' entrepreneurial intentions. Senay SabahEntrepreneurial activity is considered to be an intentionally planned behaviour. Consequently, entrepreneurial intention EI may be evaluated via theory of planned behaviour TPB. According to Ajzen’s TPB, EI is explained by three antecedents attitude towards entrepreneurial behaviour, perceived social norms and perceived behaviour control in other words, self‐efficacy. Although this model is widely tested empirically, new research regarding moderation effects may be valuable [1]. Moreover, [2] argues that personal factors such as previous start‐up experience are relevant concerning the model. Accordingly, in this study, moderation effect of start‐up experience is added in TPB model from a convenience sample of 528 undergraduate business administration students from the three most economically developed cities in Turkey. Hypotheses are tested by means of hierarchical multiple regression analysis. Coefficients are estimated using ordinary least squares. In order to test the moderator effect, significance values of the interaction term is assessed. According to the results, all of the relations within the model are significant. Ajzen’s TPB holds for the Turkish case. Moreover, for the students with a past start‐up experience, the effect of both self‐efficacy and personal attitude towards entrepreneurial behaviour on entrepreneurial intensity increases. This is a promising result for the future studies. tuğba KarabulutInternal locus of control, need for achievement, risk tolerance, and entrepreneurial alertness are dimensions of personality traits which lead a person to develop the entrepreneurial intention. The purpose of this study is to explore the effects of the personality traits on the entrepreneurial intention. The author was inspired from the study of Orman 2009. This study was conducted on 480 graduate students in Turkey. Factor analyses and multiple regression analysis were conducted to the data. It was found that the personality traits had a positive effect on the entrepreneurial paper aims to identify the determinants of entrepreneurial intention among undergraduate students. Since most literature agreed that entrepreneurial intention can be determined by using Theory of Planned Behavior TPB, this theory is used as a theoretical framework in this study. The independent variables of this study consist of perceived educational support, perceived relational support, perceived structural support, personal attitude, and perceived behavioral control. This theoretical framework is verified on 351 undergraduate students in one of the Public University in Malaysia. The results found that personal attitude, perceived behavioural control, and perceived relational support are the predictors to entrepreneurial paper empirically assesses the relationship of entrepreneurial intention and its antecedents among graduating students of UTM. This study is based on the models developed by Davidsson [7] and Autio et al. [1]. Research framework has utilized the modified version of the original study. Work experience, vicarious experience, general attitude, image of entrepreneurship and other demographic variables are tested against entrepreneurial conviction and entrepreneurial intentions. This study supports the proposition that conviction is the strongest variable that has direct influence towards entrepreneurial intention, whereas general attitude has a significant influence as well as those male students with work experience were found to have higher entrepreneurial intention. Based on the outcomes of the study, the paper is concluded by giving the recommendations and a finalized model of entrepreneurial BirdEntrepreneurial intentions, entrepreneurs' states of mind that direct attention, experience, and action toward a business concept, set the form and direction of organizations at their inception. Subsequent organizational outcomes such as survival, development including written plans, growth, and change are based on these intentions. The study of entrepreneurial intentions provides a way of advancing entrepreneurship research beyond descriptive studies and helps to distinguish entrepreneurial activity from strategic assessed the levels of entrepreneurship education and training at the Further Education and Training FET level in a South African context. We are of the opinion that entrepreneurship education and training of necessity must fulfill a primary role in preparing our youth for their future. Evidence from elsewhere, in particular industrialised countries, indicates that entrepreneurship education and training at school level play important roles in the contribution to economic growth. Experts in the field of entrepreneurship believe that the contribution of small to medium-sized enterprises SMEs to the growth of our country can be much higher if entrepreneurship education is implemented at school levels. Entrepreneurship is now one of the outcomes of Grades R - 12. However, our research clearly showed that various problems in schools hinder the effective implementation of entrepreneurship education, some of which are poorly trained educators and lack of adequate resources. Better entrepreneurship education could make a significant contribution to job creation and ultimately to poverty alleviation.
Tuỳ bút về khởi nghiệp và quốc gia khởi nghiệpMỗi chúng ta nên đào bới từ cuộc sống của chính nước ta và bản thân mình, để đặt ra những câu hỏi và tìm ra những câu trả lời phải có, lấy kinh nghiệm và lý luận của thiên hạ soi rọi thêm vào, trung thực và can đảm đối với những điều mình đào bới được, từ đó tự khởi nghiệp cho mỗi chúng ta, và cùng nhau quyết làm nên quốc gia Việt Nam khởi nghiệp....Trước khi viết bài này theo yêu cầu của VIDS 19-11-2016, tôi thốt lên trong lòng Khởi nghiệp – như đang được hiểu hiện nay – là vấn đề cũ rích trên quả đất này rồi, chí ít là từ hàng nửa thế kỷ nay khái niệm về khởi nghiệp theo nghĩa hiện tại thông qua các hiện tượng phát triển của các nước như Israel, Singapore, Hàn Quốc, vân vân... đã được giảng trong nhiều trường học trên thế giới, và lác đác cả ở nước ta. Thế mà sao hôm nay khởi nghiệpvẫn cứ như là hai tiếng thần chú huyền bí, thần thánh và gần như mới toanh ở nước ta đến vậy?!Như làmốt thời đại, trên nhiều diễn đàn khác nhau tại các hội trường cơ quan hay trường học, trong các doanh nghiệp hoặc ngoài xã hội.., đâu đâu cũng thấy nói vềkhởi nghiệp!.. Thế mà con thuyền nước ta đi mãi vẫn chưa sao thấy được ánh sáng ngọn hải đăng của bờ quốc gia khởi nghiệp, dù rằng năm 2016 –năm quốc gia khởi nghiệpđã được Chính phủ chính thức phát động – đang đi dần vào những tháng ngày chót…Song đúng là ở nước ta khởi nghiệp vẫn là vấn đề đại sự..Cái mừng là nếu hỏi được một trăm người về khởi nghiệp, chắc chắn sẽ được nghe gần như là một trăm nội dung khác nhau. Những cái khác nhau này quan trọng lắm, trước hết qua đó tôi thấy khởi nghiệp là sự nghiệp của từng người, mỗi người theo cách riêng của mình thực hiện mong muốn và quyền lựa chọn của mình…Trong cái khác nhau này của một trăm nội dung trả lời có thể tìm được như thế đều có một sức sống mới rất đáng quý. Làm sao sức sống này của mỗi người trở thành sức sống quốc gia!? Xa hơn nữa, làm sao thành quả của từng khát vọng khởi nghiệp riêng lẻ sẽ tích tụ nên sức mạnh quốc gia!? Khởi nghiệp mà ai cũng làm như ai hẳn làm sao có được khởi nghiệp - dù là của cá nhân hay ở phạm vi quốc gia?! Hiện nay, trong những thanh niên nỗ lực tìm đường khởi nghiệp bằng những dự án cụ thể, tỷ số thành công trong cả nước ta năm 2016 ước khoảng gần 10%, một tỷ lệ không phải là nhỏ so với nhiều nước hiện nay trên thế giới; từng vùng như tại TPHCM và Hà Nội tỷ số này cao khoảng gấp đôi – một số cuộc hội thảo thông báo/báo cáo như vậy. Nuôi dững thành quả ban đầu này như thế nào?Tại Hà Nội, gần đây trong một số cuôc họp của Viện SENA, trong buổi lễ Microsoft ký kết một dự án hậu thuẫn Sillicon Valley Vietnam, tôi có dip nghe các báo cáo, truyện trò với một số thanh niên triển lãm sản phẩm khởi nghiệp thành công của nay ngồi ngẫm lại, tôi tìm thấy khởi nghiệp của những bạn trẻ này có một cái giống nhau thích thú Thành tựu của các bạn trẻ này hầu như đều bắt đầu từ một câu hỏi hay một cách nghĩ mà chẳng giống ai, chẳng ai nghĩ tới. Ấn tượng nhất đối với tôi trong buổi gặp mặt này là câu hỏi đầy phiêu lưu Có cách gì và như thế nào thì có thể trồng lúa, nuôi rươi và nuôi vịt trên cùng một thửa ruộng được không? Vì tính toán cho thấy giá trị thu hoạch sẽ rất lớn, đất đai được bảo dưỡng, gìn giữ được môi trường, phù hợp với biến đổi khí hậu, tạo nhiều việc làm… Được biết câu hỏi viển vông này không chỉ là ý tưởng nữa, đang được thực nghiệm trên thực địa, chưa biết thành bại thế nào, nhưng đãdám... Trong đầu tôi bật lên Không hỏi được như thế, chắc khó lòng đi tới được sáng tạo!Thì ra một sự nghiệp lớn có thể bắt đầu từ làm sao có được một câu hỏi đúng!Tôi rất thích thú về triết lý này nhờ qua truyện trò đã tự tìm thấy được cho mình, dù rằng nó chẳng phải là mới mẻ gì trên đời này!..Trong nhiều thứ tìm được, tôi tìm thấy một cái giống nhau nữa trong suy nghĩ của họ – tuy là rất có lý – nhưng tôi lại không thích, và muốn lưu ý ở đây Các bạn ấy mong muốn được có cơ chế hay ưu đãi đặc biệt, nhất là về vốn, về đất đai, về một số chính sách...Phần tôi lại nghĩ không nên như thế. Bởi vì chờ đến khi có được trong tay những ưu đãi mong đợi ấy thì lâu lắm, và thường là không bền, lại phải hàm ơn. Hơn nữa, ưu đãi chẳng bao giờ là đủ, sớm muộn cũng sẽ làm hư các bạn này theo một cách nào đó. Nên chăng các bạn này cần phải dấn thêm bước nữa Lên tiếng đưa những mong muốn này của mình vào thể chế, cơ chế, chính sách, chịu khó sàng lọc nó để đưa vào xây dựng cơ chế chính sách mới..; chứ không thể đơn thuần xin theo kiểu bao cấp như vậy được. Sẽ không gì hơn là từ những đòi hỏi thực hiện những sản phẩm khởi nghiệp của chính mình, chủ động tham gia xây dựng cơ chế, chính sách. Nếu chưa đủ trưởng thành làm việc này thìcố phấn đấu tự trưởng thành để quyết làm và phải làm, góp phần đưa hơi thở của mình và của cuộc sống vào cơ chế, chính sách của đất qua những câu chuyện trao đổi với nhau như vậy, còn nhiều điều tôi muốn viết ra ở đây. Song chính tôi cũng được khuyến khích đi tìm cách nghĩ khác cho bản thân, và xin mạnh dạn nêu lên tại đây đôi điều..Học bạn bè trên thế giới là cần, không bao giờ đủ. Thế nhưng có cái gì có thể học được từ chính cuộc sống nước mìnhvề khởi nghiệp hay không?Hỏi như thế, tôi nghĩ ngay đến Cách mạng Tháng Tám, muốn nhìn nhận cuộc cách mạng này ở cạnh khía nó mang trong nó những nét cơ bản của một quốc gia khởi nghiệp trên phương diện nhất định- Thời ấy, toàn dân tavới một khí thế và tinh thần mới, cách nghĩ mới, đã cùng nhau làm mọi việc mới của quốc gia vì trước đó họ không được làm, không có quyền làm…, với mục tiêu đổi đời chính mình, và và xây đất nước dân chủ, tự do, hạnh đã làm nên nhiều thành quả quan trọng như cứu đói, ổn định cuộc sống nhiều mặt sau khi chiến tranh thế giới II kết thúc trên đất nước ta và xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến…, xây dựng nhà nước pháp quyền bầu cử và lập Hiến pháp 1946, giải quyết nhiều tệ nạn xã hội, bắt đầu xây dựng đời sống mới, chuẩn bị kháng chiến, vân vân..,- với kết quả chung cuộc là đổi đời mỗi người và đất nướclúc đó, tạo ra cho đất nước có lực kháng chiến khi ngoại xâm quay trở Vân vân…Toàn bộ những công việc đã làm được ấy thực sự là công cuộc khởi nghiệp của một quốc gia. Chiến tranh xâm lược ập đến sớm quá 23-09-1945 ở Nam Bộ, 19-02-1946 toàn miền Bắc và trong cả nước, nên chưa thể bắt đầu những nhiệm vụ xây dựng kinh dụng cách nhìn này, tôi thấy ngay 3 yếu tố cơ bản đã làm nên công quộc khởi nghiệp quốc gia của nước ta thời đó- Nhân dân có tự do và được thực hiện những quyền của Có nhà nước dân chủ pháp quyền dù lúc đó còn rất manh nha, được thiết lập ra vì những mục tiêu đúng đã được xác định độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân, của đất Đã giành được những kết quả căn bản trong phạm vi thời gian có được trước khi ngoại xâm quay trở cách nhìn như thế, tôi tìm được ngay gợi ý đúng và cần thiết để đặt ra câu hỏi Ngày nay nước ta muốn khởi nghiệp trong xây dựng kinh tế, cần phải làm gì?Đối chiếu với lý luận hiện đại, tôi cũng thấy 3 yếu tố cơ bảnnêu trên hoàn toàn hợp lý cho quốc gia khởi nghiệp. Song quan trọng hơn nhiều Đây là kinh nghiệm sống ngay trên đất nước ta, cung cấp cho chúng ta nhiều bài học kèm theo vô giá cho hôm nay. Ví dụ như cả nước đoàn kết một lòng và một ý chí, có được một chế độ chính trị vì dân vì nước, người trong đảng lãnh đạo hay trong bộ máy nhà nước tiên phong gương mẫu và một lòng vì nước vì dân… Các chủ trương đường lối chính sách đúng và được thực hiện tốt cũng từ đấy mà ra. Vân vân… Ai đã được sống trong những ngày của đất nước sau Cách mạng Tháng Tám, và những năm tháng trong kháng chiến sau này nữa, chắc hôm nay vẫn còn cảm thấy rất hạnh phúc, vì đã được hít thở trong khí thế hào hùng của dân tộc, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám khởi nghiệp….Ở quy mô địa phương, tôi xin gợi ý cả nước nên khảo sát, nghiên cứu sự phát triển của xã Thanh Văn huyện Thanh Oai, Hà Đông, nay thuộc địa phận Hà Nội trên 20 năm vừa qua tính cho đến nay.Tôi thực sự muốn coi Thanh Văn như một ví dụ độc nhất vô nhị trong cả nước về nhiều mặt phát triển của một xã khởi nghiệp ngân sách nhà nước không phải đầu tư, nhưng các chỉ tiêu phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội Thanh Văn đạt được phong phú và cao hơn rất nhiều so với những chỉ tiêu trong chương trình xây dựng nông thôn mới cả nước đang tiến hành nhiều năm nay. Đáng chú ý nhất Toàn xã tỷ lệ hộ nghèo không tới 1%, nhân dân hoàn toàn làm chủ mọi việc của xã, không có tham nhũng tiêu cực, nông dân có lương hưu từ nguồn bảo hiểm lương hưu do chính mình tạo ra và từ phúc lợi xã hội của xã, và điều như truyện thần thoại có thể nói nhân dân và đảng bộ ở đây là một!.. …Nói ngắn gọn Xã này đã tự tạo ra cho mình hầu như là đủ cả 3 yếu tố cơ bản đã trình bầy trên cho khởi nghiệp, nhưng ở quy mô xã. Bây giờ nó đang ở giai đoạn phát triển với mọi khả năng nó có, bắt đầu đứng trước tình huống nguy cơ sân chơi của nó đã hết vì nhiều lý do của xã và của quốc gia, ngày nay nó khó lòng vươn xa được nữa – cũng nên mổ xẻ các lý do của thực tế đáng lo này!Từ khi biết xã này cách đây vài ba năm, tôi thực sự đau đầu Vì sao mô hình này không thể nhân ra được trong cả nước?Nhiều lão đồng chí và bạn bè cùng tôi loay hoay quảng bá cho nó, muốn nhân mô hình này trong cả nước, nhưng không ăn thua. Chúng tôi đành tự an ủi mình bằng sự thán phục Thanh Văn vẫn đứng kiên cường như thế trên đôi chân của mình cho đến hôm nay đã là điều trên cả tuyệt vời!Chuyện Thanh Văn rất dài dòng, hoàn toàn xứng đáng bỏ công sức ra tìm hiểu, có thể một kết quả khó tưởng tượng nổi đang chờ đợi!Tầm khởi nghiệp cá nhân. Truyện trò với các bạn trẻ tại Silicon Valley Vietnam, tôi liên hệ đến Đặng Lê Nguyên Vũ – một người khởi nghiệp đã thành công từ khi ở tuổi thanh niên ngay sau khi ra trường.Tốt nghiệp đại học y, nhưng bỏ nghề, để khởi nghiệp từ một quán cà-phê ở TPHCM. Làm việc quần quật bằng cái đầu, để từ tay trắng dần dần làm nên vương quốc café Trung Nguyên từ cái nôi Buon Ma Thuot, được đời tặng cho cái danh thơm “from zero to hero”.Vốn từ học đường và ý chí học hỏi từ trường đời trong phấn đấu sống chết với sản phẩm cà-phê ở phạm vi thế giới đã làm nên một “the king of coffee” Đặng Lê Nguyên Vũ, với nhiều suy nghĩ và triết lý sâu sắc mang tầm vóc chiến lược phát triển của một quốc gia thời hội nhập nói chung – cụ thể ở đây là nhằm vào Việt Nam, và của café Việt Nam nói từ hàng chục năm nay công khai tham vọng của mình và dấn thân thực hiện nó Muốn dấy lên một Việt Nam khởi nghiệp như Israel đã từng trải qua; đã từng bỏ ra không ít trí tuệ, công sức, của cải, thời gian, cả một phần nào sự nghiệp kinh doanh của mình nữa, quyết theo đuổi tham vọng này. ĐLNV đã dựng lên được vương quốc cà-phê Trung Nguyên giành được tên tuổi trên thế giới, nhưng đến nay vẫn thất bại trong khát vọng dựng lên quốc gia khởi nghiệp Việt Nam. Cũng như mọi người thành công khác trong khởi nghiệp, ĐLNV cũng bắt đầu sự nghiệp của mình bằng những câu hỏi không giống ai đặt ra cho chính hay không thích, khen hay chê ĐLNV là chuyện của mỗi người. Cũng như mọi người, trong thực hiện ước mơ của mình ĐLNV có những cái thiết thực và hão huyền, không ít những đúng và sai, có cả tốt và xấu, những tính toán và tham vọng.., chẳng sao cả! Xin nói thẳng như vậy. Cuộc sống sẽ sàng lọc, phán sao lại đi cấm một người dám mơ ước làm vua dựng lên một quốc gia khởi nghiệp? Mọi con người tự do đều có quyền mơ ước và dấn thân cho điều mình mơ ước, có quyền dám và cảquyền thất bại – vì chính mình và vì hạnh phúc của cộng đồng. Vì lẽ công bằng, riêng tôi còn muốn ghi nhận Người mơ, sống, thở và hành động cho khởi nghiệptrở thành động lực quốc gia của Việt Nam, cho một Việt Nam khởi nghiệp, đã làm được không ít việc cho mục tiêu này dù có thành có bại như ĐLN Vũ đã làm,những người như thế ở nước ta không nhiều! Trong giá sách của tôi có nguyên trọn bộ “tủ sách Trung Nguyên về quốc gia khởi nghiêp” chỉ là một ví ghi nhận nói trên của tôi không phải để an ủi hay tôn vinh ĐLNV – tôi nghĩ ĐLNV không cần những thứ này. Song thâm tâm tôi mong muốn đất nước ta phải có thật nhiều người dámnhư thế! Nói lên nỗi niềm này, tôi muốn bầy tỏ lòng trân trọng của mình đối với mọi thất bại của những hoài bão đẹp trong đời sống của đất nước, trong lòng cầu mong ngày càng nhiều người dámnhư thế…Tới đây, tôi không thể không tự hỏi mình không ít những câu hỏi miên chăng chúng ta cho đến tận hôm nay vẫn chưa đủ sứcnhìn nhận Cách mạng Tháng Tám về phương diện nào đó còn làm nên sự nghiệp của một quốc gia khởi nghiệp, trên thức tế đã tạo nên 3 yếu tố cơ bản nhất thiết phải có cho một sự nghiệp như thế?Phải chăng vì chưa đủ sức như thế, cho nên con thuyền Việt Nam cách đây 71 năm đã chạm tay được vào những vấn đề quốc gia khởi nghiệp, nhưng trong 40 năm độc lập thống nhất bơi lội mãi mà vẫn chưa làm sao thấy được bến bờ quốc gia khởi nghiệp? Có đúng như thế không?Nhức nhối không kém là những câu hỏi về nhân rộng mô hình Thanh hiện tượng Đặng Lê Nguyên Vũ cũng là một rừng câu hỏi trăn trở. Nhất là những câu hỏi Là cường quốc số 1, số 2… thế giới về xuất khẩu café nhân hàng chục năm nay, sao hôm nay café nhân Việt Nam vẫn phải bán rẻ hơn so với thiên hạ? Mấy chục năm rồi mà Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ là cường quốc café nhân, không đi xa hơn được nữa, đành chịu nhường phần giá trị gia tăng rất quan trọng trong café nhân cho các đối thủ cao tay hơn trên thế giới – vì sao? Là một cường quốc 1, 2 thế giới về café mấy chục năm nay rồi, mà vẫn chưa sao xây dựng được một hệ thống hỗ trợ, bảo hộ và bảo hiểm rất nên có cho nông dân trồng café – làm sao khắc phục được thiếu sót này? Vân vân… ĐLNV thất bại không ít trước những câu hỏi này. Nhà nước ta thất bại nhiều hơn!..Gõ Google để tìm các lý lẽ về khởi nghiệp, trong vài phút bạn có thể có hàng trăm trang các loại lý thuyết để in ra giấy, và sẽ có thể mất vài giờ hoặc vài ngày để đọc nó, thậm chí có thể lâu hơn. Đại loại là những dòng chữKhởi nghiệp – theo định nghĩa phổ biến nhất – đó là giai đoạn sớm nhất trong vòng đời của mỗi doanh nghiệp khi người sáng lập ra nó hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình… – Diễn Đàn Doanh Nghiệp ngày nghiệp là một tổ chức của con người được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nghiệp Trẻ tháng vân… và vân mất vài phút đọc mấy trang tuỳ bút này, tôi hy vọng bạn đỡ buồn ngủ hơn, suy nghĩ cũng được kích thích hơn, và cũng có thể bạn sẽ bị hành hạ nhiều hơn… Mặc dù làm con mọt sáchtrong mọi thời giờ có thể luôn luôn là việc phải làm, như thâu nạp dinh dưỡng cho sống tôi mong mỏi nhất Mỗi chúng ta nên đào bới từ cuộc sống của chính nước ta những câu hỏi và trả lời phải có, lấy kinh nghiệm và lý luận của thiên hạ soi rọi thêm vào, trung thực và can đảm đối với những điều mình đào bới được, từ đó mỗi chúng ta một tay cùng nhau quyết làm nên quốc gia Việt Nam khởi nghiệp. Rất đáng làm như thế lắm lắm, cho mình, cho đất nước!
Bài văn mẫu lớp 9Những bài văn mẫu hay lớp 9Văn mẫu lớp 9 Nghị luận về vấn đề khởi nghiệp được tổng hợp và sưu tầm gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham luận về vấn đề khởi nghiệpThời gian qua, khởi nghiệp đã trở thành một vấn đề nóng trong xã hội. Người người nói đến khởi nghiệp, nhà nhà nói đến khởi nghiệp, nhưng số người khởi nghiệp thành công lại ít ỏi đến đáng thương. Thông qua câu chuyện khởi nghiệp, nhiều câu chuyện liên quan đến người trẻ cũng khiến chúng ta phải nặng lòng suy nghĩ. Khởi nghiệp, theo định nghĩa là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung Startup company. Vấn đề khởi nghiệp hiện nay thường được gắn với những người trẻ, những người mới tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bằng nguồn vốn tự có hoặc qua các nguồn vốn huy động khác, những người trẻ hiện thực hóa ý tưởng khởi nghiệp của mình. Trên thực tế, số người khởi nghiệp thành công không phải là ít song số người thất bại cũng không hề hiếm. Nếu hỏi các sinh viên về kinh tế nói riêng và sinh viên các trường cao đẳng, đại học nói chung rằng họ có chương trình khởi nghiệp – start up nào của bản thân không thì có lẽ ai cũng trả lời là có. Đây là một điều rất tích cực. Tuy nhiên, chúng ta cũng không khỏi lo lắng trước một bộ phận không nhỏ người trẻ đang bị ảo tưởng về sức mạnh của bản thân, chạy theo các dự án khởi nghiệp mà chưa biết bản thân mình có thể làm được gì. Để rồi sau đó, không ít dự án khởi nghiệp thất bại, không ít tiền đầu tư “đội nón ra đi” và không ít người trẻ lâm vào cảnh nợ nghiệp đã thực sự trở thành một trào lưu thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân, đặc biệt là giới qua câu chuyện về khởi nghiệp, một vấn đề khiến chúng ta không khỏi suy ngẫm là việc người trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ hành trang để khởi vấn đề khởi nghiệp, không ít người trẻ của ta đang mắc phải căn bệnh chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. Nghĩa là ở đây, họ chưa có đủ kinh nghiệm, kiến thức nhưng vẫn chạy theo những giấc mơ hão huyền, phù phiếm. Có nhiều câu chuyện dở khó dở cười đã diễn ra trên thực tế về khởi nghiệp. Đó là những anh bạn mới chân ướt chân ráo vào nghề nhưng không chịu học hỏi kinh nghiệm kinh doanh, không chịu làm thuê để biết việc mà cứ khăng khăng tự lập doanh nghiệp để làm chủ. Để rồi sau đó, doanh nghiệp ra đời chưa đến vài tháng đã lâm vào cảnh sống mòn, dần dần sụp đổ. Có những người chưa biết đến đầu đuôi xuôi ngược của lĩnh vực mà mình định đầu tư đến đâu nhưng thấy người khác làm được nên cũng cố vay mượn tiền bạc để “học đòi” làm ông chủ. Chính những sự hời hợt đó đã khiến cho việc khởi nghiệp của rất nhiều người rơi vào bế từ đây, ta có thể thấy một hiện thực đáng buồn là trong quá trình lựa chọn công việc, không ít người cũng mang thói hư tật xấu này ra. Mặc dù chưa đủ kinh nghiệm, chưa đủ va vấp, mới tập tễnh tốt nghiệp ra trường nhưng lại “kén cá chọn canh”, chỉ đòi làm việc ở những công ty lớn, chỉ muốn người vào các vị trí chỉ tay năm ngón lãnh đạo người khác. Có những người chưa kiếm nổi một đồng tiền phục vụ cho bản thân, chưa nuôi sống được chính mình nhưng lại “chém gió định thiên hạ”, chỉ ngồi một chỗ để thêu dệt nên những giấc mộng hão thể có chuyện mua cái áo cũng là tiền của bố mẹ, ăn bữa cơm cũng phụ thuộc người khác để rồi ngồi một chỗ mơ mơ màng màng. Khi chưa nuôi sống được chính mình thì làm sao có khả năng để tạo công ăn việc làm, là chỗ dựa cho người khác. Mở rộng ra, không chỉ trong khởi nghiệp mà còn cả trong việc tìm việc, muốn làm cao, làm to thì trước hết phải nhìn xuống dưới đất để thấy mình ở đâu; nhìn vào chính bản thân mình để thấy mình có gì, cảm nhận xem mình có đủ khả năng tiếp nhận công việc đó hay trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Đảng và Nhà nước ta cũng luôn xác định tầm quan trọng của người trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo mọi cơ hội, điều kiện cho người trẻ phát triển, khẳng định bản nhiên, thực tiễn thời gian qua đã cho ta thấy nhiều căn bệnh nguy hiểm phát sinh trong giới trẻ. Đó là căn bệnh ảo tưởng về sức mạnh của bản thân, đó là căn bệnh chưa nuôi sống được mình đã đòi làm ông chủ của người khác, đó là căn bệnh “kén cá chọn canh” khi đi xin việc, đó là thói lười nhác không chịu hi sinh mà chỉ chú ý đến lợi ích của bản thân mình. Ôi, rất nhiều căn bệnh nguy hiểm đang lây lan ngày một nhanh khiến cho sức mạnh của người trẻ bị giảm khó để nhận thấy, nhiều người trẻ đang có lối sống lệ thuộc vào cha mẹ. Họ thiếu khả năng chống chọi với đời sống, thiếu khả năng thích nghi với những biến động trong xã hội. Do được bảo bọc quá chặt chẽ, nhận thức của họ về bản thân cũng tồn tại nhiều điểm sai lệch. Trong đó, nổi lên là việc đề cao bản thân một cách thái quá, luôn nghĩ về xã hội theo một cách giản đơn. Chính điều này đã khiến cho nhiều dự án khởi nghiệp bị sụp đổ khi vừa mới bắt đầu không lâu, làm cho tài nguyên quốc gia bị lãng cuộc sống nói chung và trong công việc nói riêng, để đạt được thành công thì chúng ta phải bắt đầu từ những gì nhỏ nhặt nhất. Chỉ khi nào chúng ta biết mình là ai, mình ở đâu trong xã hội thì mới có thể xây dựng cho mình một con đường để phát triển. Mong rằng trong thời gian mới, mỗi người trẻ hãy làm chủ chính mình, nắm chặt cuộc đời của chính mình trước khi vỗ cánh bay đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 9 Nghị luận về vấn đề khởi nghiệp. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 9 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Nghị luận về hiện tượng nhiều bạn trẻ thích thể hiện mình bằng cách bắt chước lối ăn mặc, cách cư xử, quan điểm sống của những người nổi tiếng
LPTech được thành lập với sứ mệnh đem lại những công nghệ mới nhất đến với doanh nghiệp Việt Nam. Những thành công của bạn là niềm tự hào của LPTech. Trụ sở 96/76 Đặng Thuỳ Trâm, Phường 13, quận Bình Thạnh, Hồ Chí Minh Văn phòng 164 Phan Văn Trị, Phường 12,Quận Bình Thạnh, HCMC
Mọi khó khăn mà chúng ta phải đối mặt đã từng được vượt qua bởi một người mà chúng ta tôn trọng, người sẵn sàng cho chúng ta biết nó được thực hiện như thế nào. Một câu nói đúng vào đúng thời điểm thường có thể mang lại ý nghĩa và nhận thức sâu sắc hơn chính vào lúc bạn cần đến nó nhất. Xem thêm 5 châm ngôn để khởi nghiệp thành công Một câu nói hay có thể cung cấp cho bạn lăng kính để thông qua đó nhìn thấu một tình huống khó khăn hoặc mang lại một tia sáng trong thời khắc tối tăm. Đây là bộ sưu tập những câu nói đầy cảm hứng từ những người có khả năng quan sát và trực giác giúp khích lệ tinh thần cho tất cả chúng ta. Xem thêm Danh ngôn dành cho các chặng đường khởi nghiệp 1 “Động lực lớn nhất của tôi? Là tiếp tục thử thách bản thân tôi. Tôi thấy cuộc đời gần giống như một nền giáo dục đại học lâu dài mà tôi chưa bao giờ có – mỗi ngày tôi đều học một thứ gì đó mới mẻ.” – Richard Branson – 2 “Thiên tài là 1 phần trăm cảm hứng, và 99 phần trăm mồ hôi.” – Thomas Edison – 3 “Mỗi khi bạn tuyên bố những gì bạn muốn hoặc tin tưởng, bạn là người đầu tiên nghe thấy nó. Đó là thông điệp cho cả bạn và người khác về những gì bạn nghĩ là có thể xảy ra. Đừng tự tạo trần chắn cho chính mình.” – Oprah Winfrey – 4 “Sợ hãi là căn bệnh. Sự hối hả là thuốc giải độc.” – Travis Kalanick – 5 “Nếu bạn được mời lên tàu vũ trụ, đừng hỏi ghế nào! Cứ lên đi.” – Sheryl Sandberg – 6 “Thời điểm, sự kiên trì và mười năm cố gắng cuối cùng sẽ khiến bạn trông giống như người thành công chỉ sau một đêm.” – Biz Stone – 7 “Ăn mừng thành công thì tốt thôi nhưng điều quan trọng hơn là phải chú ý đến những bài học về sự thất bại.” – Bill Gates – 8 “Mơ, sau hết, là một dạng lên kế hoạch.” – Gloria Steinem – 9 “Câu hỏi mà tôi tự hỏi mình gần như mỗi ngày là, “Tôi có đang làm việc quan trọng nhất tôi có thể làm không?” – Mark Zuckerberg – 10 “Bạn nắm giữ cuộc đời mình trong chính đôi tay của mình, và điều gì xảy ra? Thật khủng khiếp, không có ai để bạn trách cứ.” – Erica Jong – 11 “Một người không bao giờ phạm sai lầm thì không bao giờ thử bất cứ điều gì mới.” – Albert Einstein – 12 “Thành công là trải qua thất bại này đến thất bại khác mà không mất đi lòng nhiệt huyết.” – Winston Churchill – 13 “Cách để khởi đầu là dừng nói và bắt đầu làm.” – Walt Disney – 14 “Khi một cánh cửa hạnh phúc đóng lại, một cánh cửa khác sẽ mở ra, nhưng thường thì chúng ta nhìn rất lâu vào cánh cửa đã đóng mà không thấy được cánh cửa vừa mở ra cho chúng ta.” – Helen Keller – 15 “Thành công không phải là chìa khóa của hạnh phúc. Hạnh phúc là chìa khóa để thành công. Nếu bạn yêu thích những gì bạn đang làm, bạn sẽ thành công.” – Albert Schweitzer – 16 “Những người thành công và không thành công không khác nhau nhiều về năng lực của họ. Họ khác nhau về mong muốn để đạt được tiềm năng của mình.” – John Maxwell – 17 “Thật khó để làm xuất sắc bất cứ việc gì mà không nghĩ về nó khi đang tắm.” – Paul Graham – 18 “Mỗi cú đánh ăn điểm đưa tôi tiến gần hơn đến cú đánh mạnh kế tiếp.” – Babe Ruth – 19 “Không có tham vọng, người ta không thể khởi tạo được điều gì. Không làm việc thì sẽ không gặt hái được gì. Giải thưởng sẽ không tự gửi đến bạn. Bạn cần phải chiến thắng nó.” – Ralph Waldo Emerson – 20 “Xây dựng ước mơ của riêng bạn, hoặc ai đó sẽ thuê bạn xây dựng ước mơ của họ.” – Farrah Gray – 21 “Nếu tôi hỏi mọi người rằng họ muốn gì, chắc hẳn họ đã nói muốn ngựa phải chạy nhanh hơn.” – Henry Ford – 22 “Một doanh nhân khởi nghiệp về cơ bản là một người giỏi mường tượng và giỏi hiện thực hóa. Anh ta có thể mường tượng điều gì đó, và khi hình dung về nó, anh ta có thể thấy chính xác cách nó xảy ra.” – Robert L. Schwartz – 23 “Tôi tin rằng khoảng một nửa nguyên do tách biệt các doanh nhân thành công khỏi những người không thành công chính là sự kiên trì.” – Steve Jobs – 24 “Tiền là gì? Một người đàn ông là người thành công nếu anh ta thức dậy vào buổi sáng, đi ngủ vào buổi tối và trong khoảng thời gian từ sáng đến tối có thể làm điều mà anh ta muốn.” – Bob Dylan – 25 “Giáo dục chính thống sẽ giúp bạn kiếm sống; tự giáo dục sẽ giúp bạn tạo ra một gia tài.” – Jim Rohn –
Thơ Về Khởi Nghiệp, Công Danh Sự Nghiệp ❤️️ 30+ Bài Hay ✅ Mời Bạn Đọc Tham Khảo Tuyển Tập Thơ Sự Nghiệp Và Tình Yêu Chọn Lọc. Những Câu Thơ Nói Về Khởi Nghiệp HayChùm Thơ Khởi Nghiệp Đặc SắcNhững Bài Thơ Hay Về Sự Nghiệp Chọn LọcCác Bài Thơ Về Công Danh Sự Nghiệp Ấn TượngChùm Thơ Buồn Về Sự Nghiệp Lắng ĐọngThơ Về Sự Nghiệp Học Hành Sâu SắcTuyển Tập Thơ Hán Về Sự Nghiệp Độc ĐáoNhững Câu Thơ Hay Nói Về Sự NghiệpChùm Thơ Sự Nghiệp Và Tình Yêu Nổi Bật Nếu bạn đang tìm kiếm Những Câu Thơ Nói Về Khởi Nghiệp Hay thì cùng tham khảo những bài thơ được chia sẻ sau đây nhé! Khởi nghiệpTác giả Hoàng Tô Khởi nghiệp là gì? Khởi nghiệp là khao khátThay đổi thế giới nàyQua đêm thành triệu phúRồi phần lớn… trắng tay Khởi nghiệp cần nghiệp gì? Khởi nghiệp cần tu nghiệpDù trong nước hay ngoàiĐừng bắt chước Bill GatesLão ấy là thiên tài Kiến thức chuyên môn vững vàng Khởi nghiệp cần đồng nghiệpTốt nhất là bạn thânGiấc mơ cùng chia sẻHạnh phúc hơn bội phần Chiến hữu đồng cam cộng khổ Khởi nghiệp cần tác nghiệpÝ tưởng – chuyện vặt thôiThực thi là việc khóSản phẩm phải tuyệt vời Chăm chỉ và nỗ lực không ngừng Khởi nghiệp cần chuyên nghiệpĐâu chỉ máu là xongTài chính cạn là chếtThiếu hiểu luật cũng bong Hiểu biết về quản trị Khởi nghiệp sẽ thành nghiệp gì? Khởi nghiệp thành lập nghiệpKhi đạt break-evenThu và chi cân đốiDoanh nghiêp vững lên dần Khởi nghiệp thành cơ nghiệpCần thêm chút vận mayThiên thời và địa lợiChăm chỉ không lơi tay Khởi nghiệp thành đại nghiệpChuyện hy hữu khôn lườngPhần lớn do duyên nghiệpTóm lại nhờ Cô thương! Khởi nghiệp thành tội nghiệpKhi hết sạch vốn rồiChưa kể nếu máu quáVay giang hồ là toi Khởi nghiệp thành tạo nghiệpNếu “vi phú bất nhân”Mong thành công vội vãViệc chi cũng dám mần… Tóm lại Cứ can đảm khởi nghiệpKhi nghiệp đã khởi rồiCứ đi ắt sẽ đếnChưa biết đến đâu thôi Bạn trẻ, nào khởi nghiệp!Máu nóng đang tràn trềChỉ mong rằng chớ đểDốt đội lốt đam mê! Tiến SĩTác giả Đặng Hoàng Vũ Xã hội có quá chuyện vuiBình xét tiến sĩ lắm người kém hơnMuốn biết thật giả nguồn cơnSo bì tiêu chuẩn thua hơn ra liền Tiến sĩ không phải kiếm tiềnCho nên đừng lấy bạc tiền ra soThấp cao có chuẩn để đoNếu bàn tiến sĩ phải so nhiều điều Ngoại ngữ phải có ít nhiềuNhưng phải là thứ cùng chiều chuyên mônCòn loại giao tiếp ồn ồnThì sao anh hiểu chuyên môn mà bì Muốn thi tiến sĩ chi chiThì phải qua được các kỳ thấp hơnChổ mà anh đứng dỗi hờnThì ông tiến sĩ đã lờn mặt ra Tiến sĩ không phải cao xaChẳng qua khởi nghiệp là nhà bút nghiêngLuận án là thứ đầu tiênGiống như là vốn thay tiền kinh doanh Luận án không tự nhiên thànhKhoa học đâu chỉ để dành kiếm cơmSao đòi ứng dụng sạch trơnTrong khi chưa có mối thơm đặt hàng Cái mới đâu chỉ là vàngÔn lại cái cũ cũng hàng cao siêuBởi lẽ có lắm những điềuCũ làm chưa được mới nhiều làm chi Khởi nghiệp gian khó bước điKinh doanh cũng lắm thị phi lỗ lờiKhoa học trong suốt cuộc đờiThành công chỉ một là lời vốn to Cho nên đừng quá so đoNgười vừa khởi nghiệp chưa no muôn phầnThời gian thay đổi dần dầnCũng nhiều ứng dụng nhiều tầng sách hay Chẳng đâu như đất nước nàyDân trí thấp kém thì bày ra thanBây giờ tiến sĩ ngút ngànThì sách thì mói thì bàn thì soi Trong khi cơ chế hỡi ôiCó chịu nghe hết những lời tham mưuTừ đó gọi tiến sĩ nguMặc dù khoa học lù lù đó thôi Xin đừng ném đá tội TôiNgười chưa tiến sĩ có lời trái taiCái từ “tiến sĩ” không saiVì sao nó thế tự ai trả lời. Mừng Xuân Tác giả Hàn Giang Chào năm mới muốn cỡi bò ra phốNgắm hồn hoa rồi mua sắm mừng xuân Nào! Khởi nghiệp khấm khá nghề nuôi lợnBốn chấm không lợi lộc bắt heo vàng Ai cũng biết chăn heo nhà siêu nạcThời a vòng giúp nhanh chóng giàu sang Xưa nét cũ trông hài hòa đẹp lạVẻ xa hoa còn dáng dấp ao làng! Nỗi Niềm Ly HươngTác giả Trần Bảo Kim Thư Giã biệt quê hương gửi mấy lờiDẫu rằng thù hận chẳng hề khơiRa đi chửa dễ mong toàn mạngỞ lại đương nhiên hỏng cuộc đờiCửa rộng nhà cao ai dám chắc?Sóng vùi gió dập lệ thầm rơi!Xứ người khởi nghiệp bằng tay trắngGian khổ nhưng tình nghiã khó vơi! Ngoài tuyển tập thơ về khởi nghiệp, tìm hiểu thêm ✨Thơ Về Công Việc✨ hay nhất Chùm Thơ Khởi Nghiệp Đặc Sắc Cùng thưởng thức ngay Chùm Thơ Khởi Nghiệp Đặc Sắc. Em đừng giận anhTác giả Anh Huy Em đừng giận anh, vì anh đang khởi phải làm gì đó để chuẩn bị cho tương buồn anh nếu anh có hờ hững,chẳng nhắn tin, chẳng đoái hoài gì cũng chẳng like, chẳng share những gì em em biết mà, anh vẫn ở bên em. Em à,có bao giờ em tự lai của hai ta sẽ là gì sau vài chục năm thì anh vẫn thường nghĩ,khi về già ta sẽ đạp rong ruổi trên khắp nẻo quê nhìn cuộc sống mỗi buổi sáng vươn tuyệt phải không em? Nhưng,…Chẳng thể nào có một tuổi già viên mãn,với một tuổi trẻ hờ hững và lười biếng em không chấp nhận để tuổi trẻ hoài phí như vậy. Em đừng giận anh, anh phải lo việc ơi,…Thân làm trai chả nhẽ ngày tám tiếng,ăn rồi ngủ, thủ thường thế sao em?Chả nhẽ cứ gom cho đầy túi,rồi vỗ ngực tự xưng ích kỷ, cả một đời vụn vặt… Chẳng bao giờ biết cho đi. Em thấy không?Có biết bao người trẻ,sáng phê, tối nhậu, nửa đêm ngôn tình…Họ tê liệt để tuổi trẻ trôi qua như vậy trêu thay, họ lại là người phán xét cuộc sống ngày, họ gào rú đòi công bằng,đòi Đất Nước phải trả ơn cho vẻ như là vậy. Em đừng giận anh, sao anh hay hào người sao chẳng chịu lo có hiểu không?Ý nghĩa tột cùng của cuộc sống,là vì người khác mà cho đi đấy em ạ. Thật nực cười,khi ta cứ mải miết đi tìm chân lý,nhưng trong bụng lại lấp đầy nỗi oán chịu mở lòng đón nhận nguồn vui tủn mủn tùn mùn chẳng giống ai. Thôi em ạ,đừng giận anh nữa để anh lo việc nước việc anh lo cả việc của hai ta!…Em đừng giận anh, đừng giận anh. Những Vần Thơ Xướng HọaTác giả chưa rõ Lắm bận tha phương chẳng thoát nghèoQuay về khởi nghiệp với đàn heoCòng lưng thái rệu rồi băm chuốiVẹo sống bào khoai lại giã bèoLão cứ mơ bòng khi lợn réoCon thì đói sữa lúc bò reoGà toi vịt tỏi lòng em héoTrận bão hồi đêm thổi lộn vèo Ông Bỏ…Tác giả Ngọc Thạch Ông bỏ ra đi thật bất ngờCòn thì còn trẻ cháu còn thơDải chiếu nhân quyền chưa tàn cuộcThu cờ độc đoán có tròn mơ. Xích xiềng khởi nghiệp thâu thiên hạDanh tiếng vuông tròn cứ ngẩn ngơDầu sôi lửa bỏng bao giờ hết?Cũng là nhân quả luật ờ! hơ! Tắt đèn mới thấy đêm mù mịtHai chữ luân thường thất lạc đâu? Khởi nghiệpTác giả thayhuynh50 Rời làng quê cuối hạ,Nhớ quá mái tranh nghèo,Đôi chân gầy vội vã,Cõng ấu thơ đi theo …. Năm mươi năm qua rồi,Vẫn in đậm trong tôi,Buổi đầu tiên đến lớp,Những xao xuyến bồi hồi… Một giảng đường chưa quen,Một ngôi trường mới lạ,Cảnh thị thành ồn ã,Nỗi vất vả sinh viên … Giấc mơ nhỏ thần tiên,Ngày lại ngày còn đó,Tôi chắt chiu nghiệp đời,Từ những gì không có… Năm mươi năm gắn bó,Với sự nghiệp trồng người,Năm mươi năm mới tỏ Khởi nghiệp nửa cuộc đời.! Bên cạnh thơ về khởi nghiệp, đừng bỏ lỡ chùm 💚 Thơ Hay Về Cuộc Sống 💚 mưu sinh Những Bài Thơ Hay Về Sự Nghiệp Chọn Lọc Bên cạnh thơ về khởi nghiệp, dành tặng bạn đọc của Những Bài Thơ Hay Về Sự Nghiệp Chọn Lọc. Bao năm ta sốngTác giả Hồ Lệ Trạch Bao năm ta sống ở Sài GònPhố chợ đã mờ đôi mắt xanhTừng sáng nỗi trôi đời cơm áoTừng chiều chếnh choáng rượu vờn quanhCông danh sự nghiệp rồi ra thếCũng nhẹ như là khói mong manhNăm tháng đời người rồi ra thếCũng vội như là gió qua nhanh Đi về đôi ngã đời rộng hẹpTa kẻ phù du xác thân nàyMột nửa ơ hờ một nửa khépTa làm cát bụi để rồi bay Bao năm ta sống ở Sài GònHồn phiêu bạc bỗng trở nên chật chộiChí lấp sông đã khép vào ngõ tốiTa là ta mà xa lạ vô cùngTa là ta rượu đời chưa uống cạnĐã say mềm với những chén riêng chung Kẻ Trắng TayTác giả Điền Phong Xót dạ đau buồn ảo não thayDường như số phận đã an bàyCông danh thuở nọ gần tan gãySự nghiệp hôm nào cũng sắp bayCứ tưởng giàu sang tìm dễ vậyNgờ đâu thế cuộc nhẫn tâm đàyGầy thân khổ cực mồ hôi chảyKết quả bây giờ lại trắng tay. Được Gì?Tác giả Hùng Đừng thèm trách cõi thế mà chiChớ oán hờn thân phận chuyện gìThử thách phong ba cần phải luyệnThăng trầm vạn nẻo gắng cam điĐường trần sướng khổ do thời cuộcSự nghiệp sang hèn bởi tiện nghiChức vụ giàu nghèo ai cũng chếtTiền tài địa vị được nào khi…? Ngày Xuân Thơ RượuTác giả Tản Đà Trời đất sinh ta rượu với thơKhô ng thơ không rượu sống như thừaCông danh hai chữ mùi men nhạtSự nghiệp trăm năm nét mực nước sông Đà tim róc ráchNgàn mây non Tản mắt lơ thơ còn rượu còn xuân mãiCòn mãi xuân, còn rượu với thơ. Bóng Thời GianTác giả Sakya Sông Lam Chẳng mấy mà đang tết cận kềNhà nhà tất bật nỗi nhiêu khêSáng trưa chiều tối bao trằn trọcXuân hạ thu đông bấy não nềLúc trẻ lo toan đường sự nghiệpKhi già ngán ngẩm tiếng khen chêThời gian cũng chỉ là duyên khởiTỉnh giác thì đâu phải bộn bề ChạyTác giả Hồng Dương Chén rượu xuân mời tựa giấc mơĐào hoa ửng sắc nắng lên thơMùa đang hẹn ước giao nõn nhụyGió mãi thay mùa lỏng chiếc nơSự nghiệp muôn đời lòng hổ vậnCông danh một kiếp mắt nai tơVòng tay đứng đợi hòng may đượcVướng ngưỡng cung cầu chớ lại ngơ Ngoài thơ về khởi nghiệp, đón đọc thêm tập 🔻 Thơ Về Cuộc Sống Khó Khăn 🔻 bế tắc Các Bài Thơ Về Công Danh Sự Nghiệp Ấn Tượng Ngoài thơ về khởi nghiệp, nhất định đừng bỏ lỡ tuyển tập Các Bài Thơ Về Công Danh Sự Nghiệp Ấn Tượng. Công DanhTác giả Nguyễn Văn Thái Dấn thân mưu nghiệp buổi đầu khơiĐậm nét chân quê giữa đất trờiGia cảnh cơ hàn buồn đẫy nỗiNước non thanh đẹp sáng muôn nơi Mặc nhiên cân đức trời ban phướcThay đổi chức danh cũng phận đờiHương sắc Thảo Đồng tâm hướng quyệnHoàng hôn ráng đỏ hết chơi vơi Ngẫm giả VUHUNGVIET Đường đời cát bụi phù sinh một kiếp phong trần khổ đauBiển kia cũng hóa nương ham danh lợi gây sầu thế nhân. Nghiệp đời là nợ đồng sân ái dục tấm thân lụy lần vay trả, trả vay..Cam lòng chịu nhục ăn mày công danh. Bạc đầu lúc tuổi còn xanh..Ngẫm nhìn thế sự lòng đành hổ khi lại thấy buồn trong nhân thế mấy người tri âm. Đến ngày về chốn xa mang ân oán âm thầm ra danh sự nghiệp sá về chốn ấy cần chi bạc tiền. Tìm vê nơi chốn bìnnh còn đau khổ ưu phiền thị hồn thanh thản ra điSinh là tạm gởi tử thực quy vè nhà. Kiếp Nhân SinhTác giả THANH THANH KHIẾT Không ta gió vẫn chuyển mùaTrời cao tính chuyện nắng mưa riêng mìnhDòng đời thương tiếc sinh linhBão dâng thác lũ vô tình lắm thay Công danh sự nghiệp trả vayBao phen dở khóc đêm ngày buồn loĐoạn trường lặn lội thân còKề vai gánh nặng chẳng so nhọc nhằn Thân tàn theo bước thời gianVụt qua năm tháng rồi dần xuôi tayHồn thiêng cưỡi hạc trong mâyNhìn về dương thế lòng đầy thảnh thơi Không còn một chút thơm rơiCháu con mỗi đứa một nơi phận mìnhLao đao giữa cuộc mưu sinhBồng bềnh như cánh lục bình trôi sông Cuộc đời nhắm mắt là xongTháng năm vô nghĩa đâu mong đợi gìBình tâm thanh thản ra điNhân sinh một kiếp thôi thì buông trôi Giầu nghèo cũng thế mà thôiBon chen cho lắm cuối rồi bằng khôngGửi lòng vào cõi mênh môngNgộ ra để biết mà trông sự đời Công DanhTác giả James Jee Quên cả lời trái phải nghĩa nhânCông danh hai tiếng phiêu bồngThao thao thức thức trên dòng thời gianNhọc nhằn cộng với gian nanMột đời đâu được an nhàn tấm thânNgày xưa vua chúa công thầnCuối cùng rồi cũng một thần lìa đờiNay sự nghiệp mới nửa vờiMà đã kiêu ngạo coi trời bằng vungTa đây sống kiếp khật khùngCông danh ta mặc mông lung chẳng màngSống đời chẳng biết lầm thanSống đời vẫn cứ an nhàn như khôngTrèo cao chẳng dám ngóng trôngTa đây tứ đại giai không tháng ngàyCuộc đời đúng đúng sai saiAi mà biết được ngày tày bằng gangThoi đưa vùn vụt thời gianĐắm mình trong kiếp lụi tàn u mêCông danh che lấp lối vềHạ Ngươn đã điểm ê chề âu loGiữ tiền giữ của bo boCuối cùng ôm nỗi buồn xo một mìnhĐâu thấy được ánh bình minhU sầu vướng bận tâm linh mất rồiCông danh hai chữ nổi trôiĐừng theo mê mệt sụt trồi truân chuyênSống đời đạm như tiênCòn hơn vật chất uy quyền xiết baoLời thành xin tỏ cùng nhauĐừng vì danh lợi phai màu nghĩa nhânSống sao cho thật chất chânCuộc đời ta sẽ an thân vui vầy Đường Công DanhTác giả Nguyễn Công Trứ Cùng đạt có riêng chi mệnh sốHành tàng nào hẹn với văn chương?Đường công danh sau trước cũng là thườngCon tạo hoá phải rằng ghen ghét mãi?Duyên ngư thuỷ còn dành cơ hội lạiQuyết tang bồng cho phỉ chí trượng phuTrong trần ai, ai kém ai đâu?Tài bộ thế, khoa danh, ờ, lại có!Thơ rằng Độc thư thiên bất phụHữu chí sự cánh thànhGiang sơn đành có cậy trông mìnhMà vội mỉa anh hùng chi bấy nhẽ?Đã sinh ra ở trong phù thếNợ trần ai đành cũng tính xongNhắn lời nói với non sôngGiang sơn hầu dễ anh hùng mấy ai?Thanh vân, trông đó mà coi Bản lĩnhTác giả Nguyễn Mạnh Hùng Cơm áo đời thường gian khổ – chiến tranhLấy vợ, sinh con, công danh, sự nghiệpSinh hoà bình, lớn binh đao tử biệtNgày trở về thời bao cấp khốn nguy Máu xương tiền đổi nghiệp sống “cu ly”Phương trời Âu tuyết rơi nhầm số phậnMẹ ơi Mẹ, suốt đời con chiến trậnĐối diện “sinh tồn”, đối mặt “sinh nhai” Con vượt qua bằng sức vóc con traiCơ nghiệp mở mang, mái nhà hết dộtMẹ hãy vui lên vườn cây tươi tốtGốc vững bền, phúc đức Mẹ cho con. Bên cạnh thơ về khởi nghiệp, mời bạn đọc tham khảo thêm 🌟 Thơ Về Kinh Doanh 🌟 buôn bán Chùm Thơ Buồn Về Sự Nghiệp Lắng Đọng Tiếp tục bài viết là Chùm Thơ Buồn Về Sự Nghiệp Lắng Đọng bên cạnh chùm thơ về khởi nghiệp. Ngoài ba mươi tuổiTác giả Vũ Hoàng Chương Nằm say, nhựa toả cánh siêu thấp, nghe trời xuống tịch nghiệp, nào đâu? Trưa, nắng phai thề ước, lá tàn ba mươi tuổi, duyên còn, hết?Một ván cờ thua, ngả bóng khóc đời ai trên bấc lụi?Đây mùa thu sớm lửa dần thiêu. Thức khuya Đêm không ngủTác giả Hàn Mặc Tử Non sông bốn mặt ngủ mơ màng,Thức chỉ mình ta dạ chẳng nguyệt leo song sờ sẫm gối,Gió thu lọt cửa cọ mài giùm thân thế hoa rơi lệ,Buồn giúp công danh dế dạo dậy nôm na vài điệu cũ,Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn. Nợ công danhTác giả Nguyễn Công Trứ Giang sơn bất thiểu anh hùng khách,Gánh kiền khôn đeo nặng kẻ rừng phú ngô, địa tái ngô,Thiên địa sinh ngô nguyên hữu thị giang sơn chung tú khí,Quả nhiên đài các xuất danh rồng mây cho phỉ chí tang bồng,Cờ báo tiệp giữa trời Nam bay bướm bộ thế mà công danh lại thế,Nợ trần hoàn quyết giả lúc này dào thiên tứ vạn chung,Khanh hầu xa mã tướng công lâu ai ai dễ biết ai? Ngẫm LạiTác giả YÊU THOÁNG QUA Cũng tại bao năm vẫn một mìnhSuy hoài ngẫm mãi thấy hơi kinhNhiều khi gắng gượng do đời sốngLắm bận âu lo bởi nghĩa tìnhSự nghiệp không thành nghe xót nảnCông danh chẳng đặng thấy nào linhBao ngày khấn nguyện tâm hồn gửiChỉ ước niềm vui hạnh phúc bình. Trăn TrởTác giả Nguyễn Tâm Giựt mình tỉnh giấc giữa canh thâuTính chuyện tương lai lại thiệt rầuTuổi đã trung niên danh chẳng cóTrai thời sự nghiệp ở nơi đâuMai rày cưới vợ lo sao xuểMốt nọ có con nghĩ nhức đầuVận số kém may đầy trắc trởThôi đành cam chịu kiếp tằm dâu ! Ngoài thơ về khởi nghiệp, điểm qua những câu ☀️Thơ Buồn Cuộc Sống☀️ tâm trạng nhất Thơ Về Sự Nghiệp Học Hành Sâu Sắc Bên cạnh thơ về khởi nghiệp, có thể các bạn sẽ yêu thích những bài Thơ Về Sự Nghiệp Học Hành Sâu Sắc sau đây. Đường Công DanhTác giả Chưa rõ Làm trai quyết chí tu thânCông danh chớ vội, nợ nần chớ loKhi nên trời giúp công choLàm trai năm liệu bảy lo mới hàoKhi nên trời chẳng phụ nàoCông danh gặp hội anh hào ra tayTrí khôn rắp để dạ nàyCó công mài sắt có ngày nên nay nho sĩ có tàiBút nghiên dóng dả, giữ mài nghiệp nhoRõ ràng nên đấng học tròCông danh hai chữ trời cho rõ ràngMột mai chiếm được bảng vàngẤy là phú quý giàu sang quế hòe,Bước đường tiến đến cống nghèVinh quy bái tổ, ngựa xe tưng bừngBốn phương nức tiếng vang lừngNgao du bể thánh, vẫy vùng rừng nhoQuyền cao chức trọng trời choBõ công học tập, bốn mùa chúc minh!Tài trai chí phải cho bềnChớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn conDù cho biển cạn non mònCông danh phải đạt cho tròn mới thôi!Nay mừng tứ hải đồng xuânTam dương khai thái, muôn dân hòa bìnhSĩ thời chăm việc học hànhMột mai khao bảng đạt thành công danhCông thời phượng các long đình,Đủ nghề phát triển, thỏa tình lợi thâuNông thì cuốc bẫm, cày sâuThu hà, hạ mạch, tăng thâu có ngàyThương thời buôn bán liền tayDứt tài tử cống, đua tài hiên ngangBa công cố gắng mở mangTri thanh, danh toại, giàu sang hơn cao đất rộng thênh thênhCông danh phú quý, còn dành cho taCó công mài sắt, diệt tàGặp thời lộc sẽ vào ra dồi dàoCông của cũng chẳng là baoRa tay tháo vát, thế nào cũng nên. Tôi Không Muốn Lấy VợTác giả Hi Am Hựu tôi không có muốn cưới vợ đâutuổi còn đang trẻ học chưa sâubái thầy học đạo còn sự nghiệpcưới vợ về rồi biết để đâucả đời chẳng dám cãi lại vợlão tử trên đầu biết để đâuquanh năm cui cut ngồi trông vợchí lớn nam nhi nhắc chi sầu Sinh Con Trai Nên Vứt giả Phạm Hoàng Tuyên Anh sinh ra nơi xóm nhỏ bưng biềnGian nhà trống giữa đồng không mông quạnhCha mẹ thương nên chở che ấm lạnhLại học hành như chúng bạn gần năm dài cứ thế nối nhau quaAnh khôn lớn và ra nơi phố thịChuyện quê nhà anh không cần bận nghĩChỉ học hành lo sự nghiệp công danhThời gian dùi mài cũng vụt qua nhanhAnh thành đạt và lập gia đình hạnh phúcCha anh lên thăm xin tiền mua thócBởi mấy năm nay quê liên tiếp mất mùaVợ anh đưa ít tiền và có ý đuổi xuaKhông muốn trong nhà có lão già quê ấyĐêm cha anh thở dài rồi trở dậyĐón xe đi khi sương ngậm lá me buồnAnh lặng nhìn và nước mắt nhẹ tuônHồn đau xót đến nghẹn ngào tê tái…Ít hôm sau mẹ sang thăm con gáiLại được vợ cho tiền và lo lắng thương yêu……Gió heo may gờn gợn lạnh trong chiềuVợ điện thoại bảo em có mang anh ạAnh chỉ cười rồi nói trong vội vã Nếu gái thì mừng, trai hãy vứt đi nghen!Chị vợ thẩn thờ nhưng cũng chẳng nói thêmChờ ngày tháng đến khai hoa nở nhụyHôm nhận được từ tin mừng của chị Con gái anh à, mau thu xếp về nha!Anh vội lo nào sữa nào quàRồi xin sếp để về nhà thăm vợ…Lật tấm khăn nhìn đứa con bỡ ngỡBảo gái cơ mà giờ sao lại là trai ?!Anh bước nhanh chẳng màng ngó đến aiMẹ vợ thấy thế mới buông lời trách cứ Con rể à trai mới là hay chứ !Sao con ngược đời lại thích gái là sao ?Anh bỗng nhiên đôi dòng lệ tuôn trào Mẹ có biết Cha con buồn con lắmÔng yêu thương từ tháng năm bồng ẵmLo học hành cho con được hôm nayĐến thăm con và nương náu đôi ngàyNhưng con lại không đáp đền muôn mộtVợ vô tâm chỉ trao vài đồng bạcĐể cha nghẹn ngào về lại chốn quê xưaCòn mẹ đến thăm thì cô ấy đón đưaTiền cung biếu, lại no cơm ấm ngủKể từ đó trong lòng con tự nhủGái mới nên, còn trai hãy vứt đi !!Là con trai chẳng giúp ích được gìNuôi nấng lớn cũng lo cho kẻ nghẹn ngào nói từng câu rời rạcMà đau thương nhuộm úa trái tim giàMẹ vợ thẩn thờ và như chợt hiểu raDòng lệ nóng nhạt nhòa vương tóc trắng Bên cạnh thơ về khởi nghiệp, xem thêm tuyển tập📌 Thơ Thất Nghiệp📌Tuyển Tập 25+ Bài Thơ Hay Nhất Tuyển Tập Thơ Hán Về Sự Nghiệp Độc Đáo Nếu bạn đang cần Tuyển Tập Thơ Hán Về Sự Nghiệp Độc Đáo thì cùng tham khảo những bài thơ sau nhé! An Mai quân 安枚君Tác giả Phan Bội Châu 安枚君漂蓬我輩各他鄉,辛苦天君分外常。性命幾迴頻死地,鬚眉三度入齡堂。驚人事業天陶鑄,不世風雲帝主張。賈使前圖盡夷坦,英雄豪傑也容常。 An Mai quânPhiêu bồng ngã bối các tha hương,Tân khổ thiên quân phận ngoại mạng kỷ hồi tần tử địa,Tu mi tam độ nhập linh nhân sự nghiệp thiên đào chú,Bất thế phong vân đế chủ sử tiền đồ tận di thản,Anh hùng hào kiệt giã dung thường. Dịch thơPhiêu bồng tôi bác thảy tha hươngRiêng bác chua cay nếm trãi luônTính mạng mấy hồi nơi đất chếtMày râu ba độ chốn linh đườngTiếng tăm sự nghiệp trời hun đúcLừng lẫy công danh chúa chủ trươngGiả sử đường đời bằng phẳng cảNào ai xứng đáng bậc phi thường Đăng Lạc Du nguyên 登樂遊原Tác giả Đỗ Mục 登樂遊原長空澹澹孤鳥沒,萬古銷沉向此中。看取漢家何事業,五陵無樹起秋風。 Đăng Lạc Du nguyênTrường không đạm đạm cô điểu một,Vạn cổ tiêu trầm hướng thử thủ Hán gia hà sự nghiệp,Ngũ Lăng vô thụ khởi thu phong. Dịch thơGiấu mình chim lẻ vắng trời xa,Vết cổ thời gian đã xoá xem sự nghiệp nhà Hán đó,Ngũ Lăng cây vắng gió thu qua. Điệp hậu 疊後Tác giả Liễu Tông Nguyên 疊後事業無成恥藝成,南宮起草舊連名。勸君火急添功用,趁取初時二妙聲。 Điệp hậuSự nghiệp vô thành sỉ nghệ thành,Nam cung khởi thảo cựu liên quân hoả cấp thiêm công dụng,Sấn thủ sơ thời nhị diệu thanh. Dịch thơSự nghiệp tan mà thành nghề mọnTiếc Nam cung cả bọn thảo trìnhKhuyên ông ra sức tập tànhĐể mà kịp nhị diệu thanh sơ thời. Hạnh Gia Hưng trấn ký đệ Cung Tuyên Vương 幸嘉興鎮寄Tác giả Trần Nghệ Tông 幸嘉興鎮寄弟恭宣王位極讒深便去官,側身渡嶺入山蠻。七陵回首千行淚,萬里捫心兩鬢班。去武圖存唐社稷,安劉復睹漢衣冠。明宗事業君須記,恢復神京指日還。 Hạnh Gia Hưng trấn ký đệ Cung Tuyên VươngVị cực sàm thâm tiện khứ quan,Trắc thân độ lĩnh nhập sơn lăng hồi thủ thiên hàng lệ,Vạn lý môn tâm lưỡng mấn Vũ đồ tồn Đường xã tắc,An Lưu phục đổ Hán y Tông sự nghiệp quân tu ký,Khôi phục Thần Kinh chỉ nhất hoàn. Dịch thơNgôi cao gièm nặng phải đi mauVượt núi len mình chốn hiểm sâuTrông bảy lăng mà chan chứa lệLần muôn dặm đã bạc phơ đầuCơ đồ lo giữ Đường không VõNghi vệ mong xem Hán vẫn LưuSự nghiệp Minh Tông nên tạc dạThần Kinh khôi phục chẳng bao lâu Những Câu Thơ Hay Nói Về Sự Nghiệp Mời bạn đọc cùng tham khảo thêm tuyển tập Những Câu Thơ Hay Nói Về Sự Nghiệp. Ẩn ThânTác giả TA Công danh lợi lộc bỏ từ lâuĐược mất thành không chẳng cưởng cầuSáng ngắm cò bay trên đất rộngChiều trông cá lội dưới hồ sâuVui cùng tuế nguyệt say vừng mộngThú với điền viên rũ bụi sầuGió mát lùa song trăng một mảnhAn nhàn tự tại dẩu về đâu Tâm Sự Với Các ConTác giả Nguyễn Lê Tấn Thương nhiều, nhớ lắm các con ta,Đứa ở gần đây, đứa ở đấu công danh, đành vất vả!Mưu cầu sự nghiệp, phải bôn ba!Không quên dẫn dắt đàn con trẻ!Mãi nghĩ yêu thương Bố Mẹ già!Nguyện ước con mình ai cũng khỏeThương nhiều, nhớ lắm các con ta ! Năm Nét Hữu CảmTác giả Tản Đà Đời người lo mãi biết bao thôiMái tóc xanh xanh trẮng hết rồi!Sự nghiệp nghìn thu xa vút mắtTài tình một gánh nặng bên tan tri kỷ người trong mộngRộng hẹp danh thân đất với trời!Sương phủ cành mai năm giục hếtNgày xuân con én lại đưa thoi. Cảm tác vào nhà ngục Quảng ĐôngTác giả Phan Bội Châu Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,Chạy mỏi chân thì hẵng ở khách không nhà trong bốn bể,Lại người có tội giữa năm tay ôm chặt bồ kinh tế,Mở miệng cười tan cuộc oán ấy hãy còn, còn sự nghiệp,Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. Tức CảnhTác giả Nắng Xuân Suối biếc dòng xuôi chảy khắp nơiĐua màu xanh thắm với mây trờiThong dong chẳng đợi chờ cơ hộiLững thững không hoài vọng thế thờiSự nghiệp trau dồi, tâm trí dốcDanh thơm chất đắp, dạ dày vơiKhó khăn vẫn quyết không lùi bướcThách thức chông gai, chẳng ngán đời ./. Ngoài thơ về khởi nghiệp, cùng thấu hiểu nỗi lòng người mưu sinh qua lời 🌻Thơ Chế Về Kiếp Làm Thuê🌻 ấn tượng Chùm Thơ Sự Nghiệp Và Tình Yêu Nổi Bật Nhất định đừng bỏ qua trọn bộ Chùm Thơ Sự Nghiệp Và Tình Yêu Nổi Bật. Duyên PhậnTác giả VÕ QUANG HÂN Thôi rồi giấc mộng vẫn đeo mangTất cả giờ đây quá phũ phàngSự nghiệp ôm vào hoài chẳng toảDanh phần gánh vác mãi chưa vangTình yêu cách biệt buồn dai dẳngHạnh phúc phân ly lắm ngỡ ngàngCứ nghĩ đường đời luôn sáng rạngNgờ đâu khổ não lệ hai hàng. Sự Nghiệp Và Thanh XuânTác giả Cảnh Ngọc Gặp nhau giữa dòng đời vội vãTa chẳng nào sống hết cho nhauChỉ lướt qua như người lạ trên phốNhưng lưu luyến nhiều nỗi buồn hiu hắt Ta thì vì công danh sự nghiệpĐời tay trắng nên chẳng nào can đảmEm thì thanh xuân đang tuổi xanh rìKhông thể vì ta mà úa tàn mãi mãi Ta xa nhau chỉ một lần là hếtNhững ân tình phút chốc khó tàn phaiRồi sau này anh sẽ có nhiều cáiNhưng chẳng nào có lại em lần nữa Tình yêu ta lớn nhưng đời hối hảMuôn trùng mây những dặm đường khăn khóKhông cùng nhau nhưng lòng ai cũng cóMột bóng hình ta mãi mãi chẳng quên. Tình Và Tiền !!!Tác giả Dang Dat Tình Tiền thay đổi trắng đenCông Danh Sự Nghiệp bon chen đêm ngàyNgẫm cho Thế sự thường hay !Tình Tiền hai thứ đổi thay Lòng Người ? Đỏ Tình Đen Bạc chơi vơiCuộc Đời Hạnh Phúc nữa vời khó khănĐỏ Bạc Đen Tình bao Năm ?Cuộc Đời vô vị Đêm nằm co ro ! Cô Độc một mình buồn xoTình Tiền hai thứ để dò Thế NhânMấy Ai Đỏ Bạc Đỏ Tình ?Đời Người Phúc Đức Bình Minh rạng ngời ! Tình Tiền mạch sống Nhân SinhThước đo Giá Trị trọng khinh Người ĐờiĐỏ Tình Đỏ Bạc đầy vơi !!Tình Yêu Hạnh Phúc Cuộc Đời Thăng Hoa !!! Em Và TôiTác giả Vĩnh Khanh Có phải tại tôi năm xưa khờ dạiMãi rụt rè nên vuột mất tình yêuHay tại thư sinh không có gì nhiềuChưa sự nghiệp, nên không hề vướng gói lại mảnh tình vừa hé nhụyRời xa em, chiều nhạt nắng mênh môngHôm tôi đi, biển chiều không gợn sóngNúi đồi xa,mây trắng phủ trên caoHàng dừa xanh, rặng liễu, gió xôn xaoHiu hắt lắm… làm sao tôi không nhớEm nắm tay nói câu gì nho nhỏ?Tôi vụng về lời lẽ hóa vô duyênRồi bỗng dưng em khóc… thật tự bước vội, tránh nhìn đôi mắt ướtTôi gặp lại em sau ngày mất nướcTóc sợi mềm gió xõa chắn ngang vaiHai đứa đạp xe theo dòng xuôi ngượcPhố chập chờn,người nhốn nháo, thê lươngTôi khá gì hơn ?…tù cải tạo mới về…Em lam lũ giữa chợ đời tảng mạnChưa nói được nhiều, tôi lại ra điThân xa xứ, trả nợ đời cơm áo…Hai mươi lăm năm sau… Xứ người lưu lạc…Gặp tình cờ, hai đứa ngập ngừng,…vui !Tôi nắm tay em, hỏi thầm khe khẽ“Ngày xa nhau, em nói nhỏ câu gì?”“Em quên rồi ! “. Câu trả lời thật nhẹ!Nhưng thoáng buồn, em dấu được tôi sao?Tôi nhìn em lòng chợt thấy nao naoThương thương quá, cả một trời kỷ niệmEm đứng đó, trong nắng chiều im vắngNắng tàn phai nhòa nhạt dáng hư hao…Mái tóc mềm chuyên chở những gian laoTrong đâu đó đã chen vài sợi bạcTôi vuốt tóc em, lòng đau quay quắcChiều dần trôi, sám hối bỗng lên ngôiCó phải tại tôi năm xưa khờ dại…Giờ ăn năn, mãi mãi một đời tôi…. Bên cạnh thơ về khởi nghiệp, đọc và cảm nhận về đời qua 🍂Thơ Buồn Cho Số Phận Con Người🍂 hay nhất
bài văn về khởi nghiệp