bài tập môn luật chứng khoán
[HCM] Công Ty Chứng Khoán Rồng Việt Tuyển Dụng Thực Tập Sinh Phòng Nhân Sự - Đào Tạo Full-time 2022, Loại hình: Công ty Việt Nam, Tính chất công việc: Thực tập và Toàn thời gian, Chuyên môn: Hành chính, Nhân sự, Địa điểm: Hồ Chí Minh, Mức lương: Thỏa thuận, Kinh nghiệm: Không cần kinh nghiệm - Đừng lo!
BÀI TẬP NHĨM 01 LUẬT CHỨNG KHỐN Câu 1: Người phải CBTT thị trường chứng khoán: Theo Điều Thông tư 155/2015/TT-BTC việc hướng dẫn công bố thông tin thị trường chứng khốn người cơng bố thông tin bao gồm đối tượng sau đây: Nhà đầu tư tổ chức: thực nghĩa vụ công bố
Khoản 1 Điều 114 Luật chứng khoán khẳng định: Công ty đầu tư chứng khoán có hai hình thức là công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ và công ty đầu tư chứng khoán đại chúng. Tuy nhiên, lại chưa có một văn bản cụ thể nào giải thích về hai hình thức này của công ty đầu
Đang xem: đề cương ôn tập môn luật chứng khoán. Tổng hợp 5 đề thi môn luật chứng khoánĐề thi (60 phút không kể chép đề)1. Hãy nêu và phân tích sự khác biệt giữa chứng khoán là cổ phiếu và chứng khoánlà trái phiếu.Ý nghĩa pháp lý của việc phân biệt này.2. Phân tích
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ giản dị, thể hiện lối sống cao đẹp, phẩm chất cách mạng sáng ngời của Bác Hồ kính yêu. Với 17 mẫu Phân tích bài
Bài sửa môn Luật Chứng khoán thảo luận lớp K44, cô Phan Thị Thành Dương 13. bất kỳ loại hình doanh nghiệp đều có thể trở thành chủ thể tham gia quan hệ pháp
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. Download Free DOCDownload Free PDFĐề cương ôn tập Luật Chứng KhoánĐề cương ôn tập Luật Chứng KhoánĐề cương ôn tập Luật Chứng KhoánĐề cương ôn tập Luật Chứng KhoánĐức Tài ĐỗCÂU 1 Phân tích khái niệm, đặc điểm, phân loại chứng khoán? Khái niệm chứng khoán
Nội dung Text Tổng hợp 5 đề thi môn luật chứng khoán Tổng hợp 5 đề thi môn luật chứng khoán Đề thi 60 phút không kể chép đề 1. Hãy nêu và phân tích sự khác biệt giữa chứng khoán là cổ phiếu và chứng khoán là trái phiếu. Ý nghĩa pháp lý của việc phân biệt này. 2. Phân tích các đặc điểm của vi phạm pháp luật chứng khoán. 3. Các khẳng định sau đúng hay sai? Giải thích tại sao? a. Chứng khoán chào bán ra công chúng phải được sự cho phép của UBCKNN. b. Các tổ chức niêm yết chứng khoán trên SGDCK là công ty đại chúng. c. Công ty quản lý quỹ đầu tư được phép phát hành chứng chỉ quỹ để thành lập quỹ. ề Đề thi môn Luật Chứng khoán Đề thi Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán Khoá 31 Thời gian 60 phút - Câu 1 Công ty đại chúng là gì? Tại sao luật chứng khoán quy định nghĩa vụ thực hiện chế độ công bố thông tin của công ty đại chúng? Câu 2 Những khẳng định sau đây đúng hay sai theo pháp luật hiện hành? Giải thích? a. Công ty chứng khoán hoạt động tự doanh chỉ được mua bán chứng khoán đã được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung. b. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có quyền phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư để thành lập quỹ đại chúng. c. Công ty chứng khoán không được thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty quản lý quỹ đầu tư. Đề không sử dụng tài liệu ề Đề thi môn Luật Chứng khoán câu 1 Anh chị hãy chứng minh công ty ck là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề có điều kiện. phân tích khả năng xung đột lợi ích giữa các hoạt động kinh doanh của công ty ck và cho biết để hạn chế những xung đột lợi ích đó pháp luật hiện hành về ck đã có những quy định gi? câu 2 phân biệt phương thức khớp lệnh định kỳ và phương thức khớp lệnh liên tục trong gdck tại Sở gdck tphcm. phân biệt lệnh giới hạn LO với lệnh khớp ở mức giá mở cửa ATO và qua đó cho biết ý nghĩa của từng loại lệnh đó cho biết khi nào nên đặt lệnh LO và khi nào nên đặt lệnh ATO?. ề Đề thi Luật Chứng khoán Đề thi Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán Khoá 32 - Khoa PLKT Thời gian 60 phút - Câu 1 Công ty đại chúng là gì? Tại sao luật chứng khoán quy định nghĩa vụ thực hiện chế độ công bố thông tin của công ty đại chúng? Câu 2 Những khẳng định sau đây đúng hay sai theo pháp luật hiện hành? Giải thích? a. Công ty chứng khoán hoạt động tự doanh chỉ được mua bán chứng khoán đã được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung. b. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có quyền phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư để thành lập quỹ đại chúng. c. Công ty chứng khoán không được thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty quản lý quỹ đầu tư. Đề không sử dụng tài liệu Đề thi Luật Chứng Khoán K33 Thời gian 60', không sử dụng tài liệu Câu 1 Phân tích những nguyên tắc pháp lý cơ bản của thị trường tập trung? Câu 2 Tại sao pháp luật hiện hành quy định chặt chẽ hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng? Câu 3 Những khẳng định sau đây đúng hay sai so với pháp luật hiện hành? Giải thích vì sao? a, Công ty chứng khoán hoạt động tự doanh chỉ được phép mua bán chứng khoán được niêm yết trên thị trường tập trung. b, Công ty quản lý quỹ đầu tư được phép phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư để thành lập quỹ đại chúng. c, Công ty chứng khoán được phép thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư.
Hãу nêu ᴠà phân tích ѕự khác biệt giữa chứng khoán là cổ phiếu ᴠà chứng khoán là trái phiếu. Ý nghĩa pháp lý của ᴠiệc phân biệt tích các đặc điểm của ᴠi phạm pháp luật chứng khoán. Các khẳng định ѕau đúng haу ѕai? Giải thích tại ѕao?Bạn đang хem Bài tập luật chứng khoán Tổng hợp 5 đề thi môn luật chứng khoánĐề thi 60 phút không kể chép đề1. Hãу nêu ᴠà phân tích ѕự khác biệt giữa chứng khoán là cổ phiếu ᴠà chứng khoánlà trái nghĩa pháp lý của ᴠiệc phân biệt Phân tích các đặc điểm của ᴠi phạm pháp luật chứng Các khẳng định ѕau đúng haу ѕai? Giải thích tại ѕao?a. Chứng khoán chào bán ra công chúng phải được ѕự cho phép của Các tổ chức niêm уết chứng khoán trên SGDCK là công tу đại thêm Công tу quản lý quỹ đầu tư được phép phát hành chứng chỉ quỹ để thành Đề thi môn Luật Chứng khoán Đề thi Luật chứng khoán ᴠà thị trường chứng khoán Khoá 31 Thời gian 60 phút -Câu 1 Công tу đại chúng là gì? Tại ѕao luật chứng khoán quу định nghĩa ᴠụ thựchiện chế độ công bố thông tin của công tу đại chúng?Câu 2 Những khẳng định ѕau đâу đúng haу ѕai theo pháp luật hiện hành? Giảithích?a. Công tу chứng khoán hoạt động tự doanh chỉ được mua bán chứng khoán đãđược niêm уết trên thị trường giao dịch tập Công tу quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có quуền phát hành chứng chỉ quỹ đầutư để thành lập quỹ đại Công tу chứng khoán không được thực hiện các hoạt động kinh doanh chứngkhoán của công tу quản lý quỹ đầu tư.Đề không ѕử dụng tài liệuề Đề thi môn Luật Chứng khoáncâu 1 Anh chị hãу chứng minh công tу ck là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnhᴠực ngành nghề có điều kiện. phân tích khả năng хung đột lợi ích giữa các hoạtđộng kinh doanh của công tу ck ᴠà cho biết để hạn chế những хung đột lợi ích đópháp luật hiện hành ᴠề ck đã có những quу định gi?câu 2 phân biệt phương thức khớp lệnh định kỳ ᴠà phương thức khớp lệnh liên tụctrong gdck tại Sở gdck tphcm. phân biệt lệnh giới hạn LO ᴠới lệnh khớp ở mứcgiá mở cửa ATO ᴠà qua đó cho biết ý nghĩa của từng loại lệnh đó chobiết khi nào nên đặt lệnh LO ᴠà khi nào nên đặt lệnh ATO?.ề Đề thi Luật Chứng khoán Đề thi Luật chứng khoán ᴠà thị trường chứng khoán Khoá 32 - Khoa PLKT Thời gian 60 phút -Câu 1 Công tу đại chúng là gì? Tại ѕao luật chứng khoán quу định nghĩa ᴠụ thựchiện chế độ công bố thông tin của công tу đại chúng?Câu 2 Những khẳng định ѕau đâу đúng haу ѕai theo pháp luật hiện hành? Giảithích?a. Công tу chứng khoán hoạt động tự doanh chỉ được mua bán chứng khoán đãđược niêm уết trên thị trường giao dịch tập Công tу quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có quуền phát hành chứng chỉ quỹ đầutư để thành lập quỹ đại Công tу chứng khoán không được thực hiện các hoạt động kinh doanh chứngkhoán của công tу quản lý quỹ đầu tư.Đề không ѕử dụng tài liệuĐề thi Luật Chứng Khoán K33Thời gian 60", không ѕử dụng tài liệuCâu 1Phân tích những nguуên tắc pháp lý cơ bản của thị trường tập trung?Câu 2Tại ѕao pháp luật hiện hành quу định chặt chẽ hoạt động chào bán chứng khoán racông chúng?Câu 3 Những khẳng định ѕau đâу đúng haу ѕai ѕo ᴠới pháp luật hiện hành? Giảithích ᴠì ѕao?a, Công tу chứng khoán hoạt động tự doanh chỉ được phép mua bán chứng khoánđược niêm уết trên thị trường tập Công tу quản lý quỹ đầu tư được phép phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư để thànhlập quỹ đại Công tу chứng khoán được phép thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu mục Đầu tư tài chính
1. So sánh thị trường tập trung và phi tập trung OTCThị trường OTCKhông có địa điểm giao dịch cụ thểGD Cơ chế thương lượng và thỏa thuận là chủ yếuCó nhiều mức giá đối với một CK trong cùng một thời điểmCK có độ rủi ro caoSử dụng hệ thống mạng máy tính diện rộng để giao dịchTổ chức quản lý trực tiếp là SGD hoặc Hiệp hội CKCơ chế thanh toán linh hoạt và đa dạng2. So sánh thị trường OTC và thị trường tự do Điểm giống nhau•Địa điểm giao dịch là phi tập trung.•Cơ chế xác lập giá thương lượng và thoả thuận là chủ yếu•Chứng khoán phần lớn là có tỷ lệ sinh lời cao và rủi ro Điểm khác nhauOTCĐược tổ chức chặt chẽGD thoả thuận qua mạngCác CK mua bán là các CK được phát hành ra công chúngCó sự quản lý, giám sát của NN và Tổ chức tự quản3. Phân biệt quỹ đầu tư CK và cty đầu tư CKQuỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán đều là hai hình thức đầu tư tập hình thức này có những điểm gì khác nhau?Căn cứ quy định tại khoản 27 Điều 6 Luật hợp nhất luật chứng khoán số 27/VBHN-VPQH thì Quỹđầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từviệc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầutư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của Công ty đầu tư chứng khoán là công ty được thành lập từ vốn góp của các nhà đầu tư và sửdụng số vốn góp đó để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán đều là hai hình thức đầu tư tập thể, đượcthành lập với hoạt động kinh doanh chính là đầu tư chứng khoán thu lợi nhuận. Tuy nhiên, hai hìnhthức này có những điểm khác nhau saua. Về hình thức- Quỹ đầu tư chứng khoán là 1 quỹ tiền tệ và không có tư cách pháp Công ty đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần theo quy định của Luậtdoanh nghiệp 2014 để đầu tư chứng khoán. Do đó, công ty đầu tư chứng khoán có tư cách pháp Về việc thành lập- Quỹ đầu tư chứng khoán Điều 83 Luật hợp nhất luật chứng khoán số 27/VBHN-VPQH quy địnhviệc thành lập quỹ đầu tư chứng khoán+ Công ty quản lý quỹ phát hành và chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng theo quy định tại Điều 90của Luật hợp nhất luật chứng khoán số 27/VBHN-VPQH và phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoánNhà nước+ Việc thành lập quỹ thành viên do công ty quản lý quỹ thực hiện theo quy định tại Điều 95 của Luậthợp nhất luật chứng khoán số 27/VBHN-VPQH và phải báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà đó, mọi hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán hoàn toàn lệ thuộc vào công ty quản lý quỹ- Công ty đầu tư chứng khoánCổ đông sáng lập hoặc công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập, phát hành và chào bán cổ phiếu racông chúngThep đó, có thể thấy công ty đầu tư chứng khoán có tư cách hoàn toàn độc lập với công ty quản Tư cách của nhà đầu tư- Quỹ đầu tư chứng khoán+ Nhà đầu tư là người hưởng lợi từ hoạt động đầu tư mà họ ủy thác cho công ty quản lý quỹ.+ Có quyền tài sản và một phần quyền quản Công ty đầu tư chứng khoán Nhà đầu tư là cổ đông, có quyền quản lý và quyền tài Phân loại- Quỹ đầu tư chứng khoán gồm 2 loại+ Quỹ đại chúng quỹ đóng và quỹ mở+ Quỹ thành Công ty đầu tư chứng khoán bao gồm+ Công ty đầu tư chứng khoán đại chúng.+ Công ty đầu tư chứng khoán riêng rẻ Công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ ủy thác quản lý vốn;Công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự quản lý vốn.4. Phân biệt chào bán cổ phiếu, chứng chỉ quỹ lần đầu IPO và chào bán chíChào bán lần đầuChào bán thêmChủ thểthực hiệnThường là các công ty mới thành lập hoặc cáccông ty nhỏ, công ty một chủ muốn chuyểnđổi thành công ty cổ phần đại ty đại chúngMục đíchHuy động vốn cho tổ chức phát hành. Chàobán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để trởthành công ty đại chúng nhưng không làmtăng vốn điều lệ của tổ chức phát tăng thêm vốn điều lệ cổ phẩn hoặc vốn tựcó trái phiếu đẻ mở rộng quy mô kinh doanhhoặc thực hiện dự án KD mà Dn đang k đủ tựĐược thực hiện trước, đầu tiênĐược thực hiện sau đợt chào bán lần đầu5. Phân biệt chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng với chủ thể tham gia vào quá trìnhchào bán chứng khoán ra công Chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng chỉ bao gồm những chủ thể ở trên. Là những chủthể có nhu cầu về vốn nên thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng đẻ thỏa mãn nhu cầu vốncủa mình- Chủ thể tham gia vào quá trình chào bán chứng khoán thì bao gồm các chủ thể trên + với các chủthể khác đóng vai trò của nhà tư vấn phát hành, bảo lãnh phát hành hoặc đại lí phát hành vì chủ thểphát hành thường không tự mình thực hiện các thủ tục. Mục đích của những chủ thể này là nhằm tìmkiếm lợi nhuận thông qua phí dịch vụ hoặc hưởng chênh lệch giá6. Phân biệt điều kiện chào bán chứng khoán ra công kiệnChào bán cổ phiếu racông chúngChào bán trái phiếu racông chúngChào bán chứng chỉ quỹđầu tưVốn điềulệ10 tỉ đồng VN10 tỉ VN đồngK yêu cầuKết quảkinhdoanh-1 năm liền kề trước DNphải có lãi- Như chào bán CPK yêu cầu-DN k có lỗ lũy kế tính đénnăm đăng kí chào bán cổphiếu- DN k dc có các khoản nợphải trả quá hạn trên có cam kết thực hiệnnghĩa vụ của Dn với tưcách tổ chức phát hành đốivới nhà đầu tưDự địnhhuy độngvốn,phương ánphát hànhDN phải dành đc sự chấpnhận của đại hội cổ đông vềphương án phát hành cp sự dụng vốn huy độngdc từ đợt chào bán ck racông chúng-Nếu CTCP chào bán TP racông chúng thì chỉ cần sựchấp thuận của hội đồngquản trịchào bánK quy định cụ thểK quy định-Nếu trái phiếu phát hànhlà chuyển đổi, có kèmchứng quyền thì lại cần cósự thông qua của HĐ yêu cầu phải cóphương án phát hành vàphương án đầu tư số vốnthu được phù hợp với quyđịnh của pháp luậtPhải đăng kí chào bánlượng chứng chỉ quỹ vớitổng giá trị tối thiểu là 50 tỉđồng7. Phân biệt chào bán chứng khoán ra công chúng vs chào bán chứng khoán riêng lẻTiêu chíChào bán chứng khoán công chúngChào bán chứng khoán riêng lượng- chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trởnhà đầu tưlên, k kể nhà đầu tư chuyên nghiệptham gia vàomỗi cuộcchào bán-giới hạn người được chào bán càngnhỏ càng tốtThể thứcđăng kí chàobánPhức tạp hơn Phải đăng kí tạiUBCKNN- Đơn giản hơn, k phải đăng kí tại cơquan NN có tqChủ thểmua ck chàobánVừa là tổ chức cá nhân, chủ thể rộngnên có cả nhà đầu tư chuyên nghiệp vànghiệp dư- Thường là những nhà đầu tư có tổchức, có kiến thức chuyên sâu ởViệt Namthường là người lao độngtrong doanh nghiệpChi phí tiếnhành chàobánThường cao và tốn kémÍt tốn kém hơnMức huyđộng vốnHuy động một lượng vốn lớn trongcông chúngThường lượng huy động vốn ítPhạm vichào bánRộng, có thể chào bán trên phạm virộngChỉ dc tiến hành trên phạm vi nhất địnhnhằm phân phối cho số ít nhà đầu tưchuyên nghiệp hoặc nhà đầu tư cá nhânđặc biệt8. Sự khác nhau giữa trung tâm GDCK và sở GDCK-Trung tâm GDCK quản lý thị trường ở quy mô hẹp;Sở GDCK quản lý thị trường ở quy mô rồng, nội dung quản lý lớn, cơ cấu tổ chức quản lý phứctạp+ được tổ chức theo mô hình công ty TNHH 1 thành viên;+ thu phí thành viên;+ nhà nước sở hữu 100% Phân biệt thị trường tập trung và thị trường phi tập nghĩaTT tập trungThị trường tập trung diễn ra cácTT phi tập trungTTCK phi tập trung diễnhoạt độngmua hoặc bán CK hoặc thamkhảo để thực hiện các giao dịchCK, được tồntại dưới hình thức phổ biến làsở GDCK ortrung tâm GDCKra tại thị trường, có thểtiến hành thông qua những hìnhthức đa dạng khácnhau như hệ thống giaodịch nối mạng, k có địa điểmgiao dịch tập hoạtđôg giao dịch chứng khoán k đủđkgiao dịchĐịa điểm tổ chứcMọi GD được thực hiện tại mộtđịa điểm cố định là sở GDCKor là trung tâm GDCK k đc thực hiện tạiđịa điểm xác định mà thôngqua hệ thống trao đổi thông tinmáy tính nối mạng, điệnthoại…hoặc ở bất kỳ địa điểm thuậnlợi nào cho việc thương lượngvàxác lập giao dịch giữa bênmua và bên bánGiá trị của ck giao dịch trênthị trgChứng khoán được GD tại thịtrường tập trung Thường là loạiCK có chất lượng được phép GD dosở GD CK tổ chức là loại CKcó chất lượng cao nhất. NhữngCK này phải thõa mãn nhữngđặc điểm rất cao do sở đc GD ở trung tâm GDCKlà những loại CK k đủ đk ornhà phát hành k muốn GD thitrường do sở GD tổ loại CK có chất lượng k caoNhư ở thị trường tập trung. Cácloại CK trên thị trường là loạiCK của các công ty vừa vànhỏ, ctymới thành lập chưa đủ đk niêmyết và giao dịch tại sở GDTiểu chuẩn niêm yết ckCao hơn do xuất phát từ bảnchất của thị trườngTập trung là nơi GD của cáccông ty lớn, tậpĐoàn xuyên quốc gia…và tuântheo các qđpháp luật tại đ8 NĐ14/2007/ hơn do đây là nơi GDcuả Các cty vừa và nhỏ, cáccông ty mới thành hình tổ chứcThông qua sở GDCK hoặctrung tâm giao dịch cấu của sở hoặc trung tâmChủ thể đứng ra tổ chức thịtrường này là các tổ chức tựquản như Hiệp hội kinhgôm hội đồng quản trị, bankiểm soát, tổng GĐ và các bộphận giúp CK…Phương thức giao dịchThành viênPhương thức khớp lệnhPhương thức thỏa thuậnNhà môi giới và tự doanh chứng Sự tham gia của các nhà tạo lậpkhoánThị trường, bên cạnh sự thamGia Của nhà môi giới và tựdoanh CKLuật điều chỉnhLuật Ck 2006 và các văn bảnhướng dẫn thi hànhLuật CK ra đơi tao cơ sở pháplý cho sự hình thành thị trườngnày nhưng Chưa có một bộphận pháp luật hòan chỉnh về tổchức và hoạt động của thịtrường này10. phân biệt TT SƠ CẤP VÀ TT THỨ CẤPĐNChức năngHoạt độngTTSCLà thị trường mua bán các CKlần đầu được phát hành qua đóhuy động vốn để đưa vào đầu tưthông tin là bắt buộc để nhà đầu tư có thể nắm bắt được thông tin của CK mà mình đầu tư vào-điều kiện để được niêm yết là không bị lỗ liên tiếp theo luật định. Việc công bố thông tin giúp buộctổ chức phát hành bảo đảm yêu cầu này- Việc công bố thông tin giúp các chủ thể quản lý thị trường như UBCKNN, SGDCK có thể nắm bắtđc thông tin của các chủ thể tham gia để thực hiện chức anwng của mình-Lợi nhuận mà nhà đầu thu đc từ việc mua chứng khoán phụ thuộc vào hoạt động của tổ chức pháthành, do đó công bố thông tin để nhà đầu tư nắm bắt đc hoạt động của tổ chức phát hành, nhằm đảmbảo tính hiệu quả các khoản đầu tư của mình12. Tại sao pháp luật hiện hành qui định chặt chẽ hoạt động chào bán ck ra công chúng?- Mục đíchlà nhằm thu hút vốn, do đó việc chào bán ck ra công chúng phải tuân thủ qui định chặt chẽnhằm xác định chính xác khả năng của tổ chức phát hành, bảo đảm tính hợp pháp và hiệu quả của cácck đc phát hành ra để bảo đảm quyền lới của nhà đầu tư khi mua ck đó của tổ chức phát hành- Việc chào bán ck ra công chúng phải tuân thủ qui định về giấy phép, đăng ký nhằm giúp cho cácchủ thể quản lý nắm đc hoạt động của TCPH, hoạt động này rất quan trọng vì nó tham gia trực tiếpvào TTCK, nơi mà các chủ thể quản lý thực hiện việc giám sát, điều tiết của mình.. Do đó phải làmđúng trình tự thủ tục để cơ quan quản lý thực hiện tốt hiệu quả chức năng của mình- Hoạt động chào bán ck là hoạt động chủ yếu, quan trọng trong TTCK, ảnh hưởng tới hầu hết cácquan hệ theo sự điều chỉnh của luật ck, vì vậy caag=fn thực hiện đúng qui định pl để đảm bảo tínhhiệu quả trong quản lý.
Tài liệu Bài tập học kỳ môn Luật chứng khoán A. MỞ ĐẦU Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán., đây là hoạt động đem lại những hiệu quả tích cực không những cho chủ thể chào bán mà còn cho cả nền kinh tế. Có hai phương thức chào bán chứng khoán là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ, trong đó chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ cho phép doanh nghiệp huy động vốn một cách dễ dàng để đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn trong quá trình hoạt động. Chào bán chứng khoán là cách thức huy động vốn linh hoạt và mang lại hiệu quả cao. Do đó, việc tìm hiểu hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động này ở nước ta có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. B. NỘI DUNG luật chào bán chứng khoán ở Việt Nam bán chứng khoán và vai trò của chào bán chứng khoán. Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Chủ thể chào bán chứng khoán rất đ... 13 trang Chia sẻ hunglv Lượt xem 2421 Lượt tải 1 Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài tập học kỳ môn Luật chứng khoán, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênA. MỞ ĐẦU Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán., đây là hoạt động đem lại những hiệu quả tích cực không những cho chủ thể chào bán mà còn cho cả nền kinh tế. Có hai phương thức chào bán chứng khoán là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ, trong đó chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ cho phép doanh nghiệp huy động vốn một cách dễ dàng để đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn trong quá trình hoạt động. Chào bán chứng khoán là cách thức huy động vốn linh hoạt và mang lại hiệu quả cao. Do đó, việc tìm hiểu hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động này ở nước ta có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. B. NỘI DUNG luật chào bán chứng khoán ở Việt Nam bán chứng khoán và vai trò của chào bán chứng khoán. Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Chủ thể chào bán chứng khoán rất đa dạng, có thể là chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp. Chính phủ thường chào bán chứng khoán dưới dạng trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc để huy động vốn, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ khi nguồn thu của ngân sách nhà nước hoặc ngân sách địa phương không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Các doanh nghiệp có thể chào bán chứng khoán dưới dạng cổ phiếu hoặc trái phiếu tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, để gọi vốn, thỏa mãn nhu cầu vốn trong kinh doanh. Không phải tất cả các doanh nghiệp đều được chào bán chứng khoán mà quyền chào bán chứng khoán thường chỉ dành riêng cho công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty cổ phần có quyền chào bán cả cổ phiếu và trái phiếu còn công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có quyền chào bán trái phiếu. Chào bán chứng khoán có vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ thể chào bán mà còn đối với cả nền kinh tế nói chung. Đối với chủ thể phát hành là chính phủ thì việc chào bán chứng khoán có khả năng giúp chính phủ thu hút được nguồn vốn lớn từ khắp nơi trên toàn quốc. Như vậy, ngay cả khi ngân sách Nhà nước thâm hụt, chính phủ vẫn có thể huy động vốn để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của mình, đặc biệt là để thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở mà không phải dùng đến những biện pháp tạo tiền có nguy cơ dẫn đến lạm phát. Ngày nay, chính phủ của hầu hết các nước phát triển và đang phát triển đều chào bán chứng khoán để bù đắp thâm hụt ngân sách. Thực tiễn cho thấy, không chỉ nước nghèo mà cả nước giàu đều bải đương đầu với nạn bội chi ngân sách và bù đắp thâm hụt ngân sách bằng con đường vay dân, qua phát hành công trái hay trái phiếu chính phủ, các biện pháp này xem ra được các quốc gia ưa chuộng hơn con đường in thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ. 2. Các hình thức chào bán chứng khoán Phương thức chào bán chứng khoán là phương pháp và hình thức thực hiện việc chào bán chứng khoán. Việc đưa chứng khoán từ nơi phát hành đến với người có nhu cầu mua chứng khoán có nhiều cách thức khác nhau. Chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ hiện nay đang là hai phương thức được sử dụng rộng rãi Theo quy định tại Khoản 12 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì “chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; b. Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định”. Chào bán chứng khoán riêng lẻ là hoạt động chào bán của chủ thể phát hành cho các khách hàng đặc biệt, thường là các nhà đầu tư có tổ chức. Riêng chào bán cổ phần riêng lẻ được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 01/2010/NĐ-CP đó là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam. luật về chào bán chứng khoán ra công chúng. thể cháo bán chứng khoán ra công chúng Chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng là những tổ chức tiến hành huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách chào bán ra công chúng các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu đối với phần vốn góp của các tổ chức phát hành cổ phiếu, hoặc xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành trái phiếu hoặc xác nhận các quyền lợi hợp pháp khác của người sỏ hữu chứng khoán quyền ưu tiên mua trước, trái phiếu chuyển đổi… Chủ thể phát hành chứng khoán gồm Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, trường hợp này tùy theo yêu cầu nắm giữ vốn của nhà nước tại doanh nghiệp, phần vốn còn lại sẽ được doanh nghiệp chào bán rộng rãi ra công chúng thông qua phát hành cổ phiếu. Hoạt động chào bán cổ phiếu của doanh nghiệp cổ phần hóa nói trên phải chịu sự điều chỉnh của những quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng. Chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng còn là công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cố phần thông qua việc chào bán cổ phiếu ra công chúng để gọi vốn rộng rãi từ công chúng đầu tư. Đây cũng là một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp được thừa nhận theo Luật doanh nghiệp 2005. Vì vậy khi chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn các công ty này cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật chào bán chứng khoán ra công chúng. Chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng là những công ty cổ phần phi đại chúng, nay có nhu cầu tăng vốn điều lệ bằng chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng; cũng có thể là các công ty cổ phần đại chúng gọi thêm vốn bằng cách chào bán cổ phiếu bổ sung hoặc chào bán các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật cũng có thể là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn được phép chào bán chứng khoán ra công chúng để huy động nguồn vốn dài hạn, tạm thời nhàn rỗi trong công chúng đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của mình. Ngoài ra, chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng còn các quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng và các công ty đầu tư chứng khoán. Đây là nhóm chủ thể đặc thù chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng do quỹ công chúng thực hiện hoặc cổ phiếu do công ty quản lý quỹ thực hiện được chủ yếu đầu tư vào chứng khoán, đem lại lợi nhuận đầu tư cho các quỹ đầu tư chứng chỉ của quỹ hoặc các cổ đông của công ty đầu tư chứng khoán. Phân loại chủ thể phát hành chứng khoán còn có thể chia làm hai loại là chủ thể trong nước và chủ thể nước ngoài nhưng bài viết này chỉ đi sâu vào chủ thể chính là chủ thể phát hành chứng khoán trong nước. thức chào bán chứng khoán ra công chúng Phương thức chào bán chứng khoán là phương pháp và hình thức thực hiện việc chào bán chứng khoán. * Phương thức chào bán thông qua đại lý Theo phương thức này tính chất trung gian bên nhận đại lý sẽ ký kết hợp đồng để bán chứng khoán của họ trên thị trường sơ cấp. Bên đại lý có thể là ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm… Các đơn vị này sẽ được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ trực tiếp trên tổng lượng chứng khoán được bán ra. * Phương thức bảo lãnh phát hành Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước và sau khi chào bán chứng khoán như định giá chứng khoán, chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành chứng khoán, tổ chức vệc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu ngay sau khi phát hành thông qua hợp đồng bảo lãnh giữa tổ chức bảo lãnh và doanh nghiệp phát hành c. Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng Sau khi thực hiện việc chào bán chứng khoán ra công chúng, chứng khoán của chủ thể phát hành sẽ được sở hữu rộng rãi bởi các nhà đầu tư. Sự thành, bại của chủ thể phát hành trong quá trình kinh doanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn lợi của các nhà đầu tư gồm các cổ đông, các chủ sở hữu trái phiếu, chủ sở hữu chứng chỉ quỹ có được từ cổ tức hoặc từ lãi trái phiếu hoặc chứng chỉ quỹ. Để bảo vệ lợi ích thỏa đáng của các nhà đầu tư và cũng là để củng cố lòng tin của họ vào thị trường chứng khoán, pháp luật mà cụ thể là LCK đã đề ra những điều kiện mà các tổ chức phát hành phải thỏa mãn để được chào bán chứng khoán ra công chúng. Hiện nay theo LCK năm 2006 các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng cũng được các nhà làm luật thiết kế có phân biệt giữa chào bán cổ phiếu, chào bán trái phiếu và chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng; tuy nhiên không còn có sự phân biệt giữa điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu và điều kiện chào bán thêm cổ phiếu mà tổ chức phát hành phải thỏa mãn như trước đây. Những quy định của LCK về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng còn lưu ý tới địa vị pháp lý của chủ thể phát hành cũng như địa vị pháp lý nơi diễn ra việc chào bán chứng khoán vì vậy điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng được xây dựng có phân biệt giữa công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ti cổ phần và doanh nghiệp thành lập mới, thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao; giữa chào bán chứng khoán trong nước và chào bán chứng khoán ra nước ngoài. Ngoài ra theo Nghị định 84/2010/NĐ-CP mới ban hành thì tổ chức phát hành phải mở một tài khoản riêng biệt tại một ngân hàng thương mại để phong toả số tiền thu được từ đợt chào bán. Trường hợp tổ chức phát hành là ngân hàng thương mại thì phải lựa chọn một ngân hàng thương mại khác để phong tỏa số tiền thu được từ đợt chào bán. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, tổ chức phát hành phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về kết quả chào bán kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong toả về số tiền thu được từ đợt chào bán. Sau khi gửi báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổ chức phát hành được giải toả số tiền thu được từ đợt chào bán. d. Trình tự, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng Trình tự thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng gồm ba bước cơ bản là đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng, công bố thông tin trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng và cuối cùng là phân phối chứng khoán ra công chúng. luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ. thể phát hành chứng khoán riêng lẻ. Chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ gồm bộ phận các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, các công ty cổ phần mới thành lập theo Luật doanh nghiệp, các công ty chứng khoán phi đại chúng và công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn đầu tư trong nước hoặc có vốn đầu tư nước ngoài. Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 01/2010/NĐ-CP thì chủ thể phát hành cổ phần riêng lẻ bao gồm công ty cổ phần, các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần, ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần. kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ. Điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Đối với công ty cổ phần mới thành lập trước hết công ty đó phải có Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Sau khi đã đăng kí kinh doanh hợp lệ, công ty cổ phần có quyền chào bán số lượng cổ phiếu được quyền chào bán đã được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Đối với doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần phải đáp ứng các điều kiện cổ phần hóa và các điều kiện minh bạch thông tin trước khi chào bán. Doanh nghiệp muốn cổ phần hóa trước hết phải là doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hai là chỉ được tiến hành cổ phần hóa nếu còn vốn Nhà nước sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp muốn cổ phần hóa là đơn vị hạch toán phụ thuộc của các doanh nghiệp thuộc đối tượng cổ phần hóa còn phải thỏa mãn thêm 3 điều kiện phải có đủ điều kiện hạch toán độc lập, việc cổ phần hóa đơn vị hạch toán độc lập này không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp và đã xác định trong phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Điều kiện minh bạch thông tin trước khi chào bán cổ phiếu riêng lẻ đòi hỏi doanh nghiệp chào bán phải công bố thông tin về bản thân doanh nghiệp cổ phần hóa. Những thông tin này phải được công bố trước khi chào bán 20 ngày để nhà đầu tư có thời gian tìm hiểu cần thiết về loại cổ phiếu sẽ chào bán để có quyết định đầu tư đúng đắn. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần thông qua chào bán cổ phiếu riêng lẻ thì phải đáp ứng các điều kiện ba điều kiện cần thiết để được chuyển đổi thành công ty cổ phần phải huy động đủ vốn pháp định theo quy định tại Giấy phép đầu tư trước khi tiến hành chuyển đổi, phải có thời gian hoạt động chính thức tối thiểu 3 năm và trong năm thứ 3 liền kề năm chuyển đổi hình thức hoạt động doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, phải có hồ sơ đề nghị chuyển đối sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần; sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, doanh nghiệp phải công bố rộng rãi về việc chuyển đổi hình thức doanh nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo nhà đầu tư nắm được những thông tin cần thiết. Điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ. Trước tiên doanh nghiệp đó phải được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty Nhà nước trong thời gian chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần hoặc phải là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kể từ khi chính thức bước vào hoạt động cho tới khi thực hiện việc chào bán trái phiếu riêng lẻ doanh nghiệp phải có thời gian hoạt động ít nhất là một năm; doanh nghiệp phải có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; doanh nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu của pháp luật về năng lực kinh doanh, thể hiện ở số lãi của hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề trước năm phát hành; doanh nghiệp phải có phương án phát hành trái phiếu đã được tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền của doanh nghiệp thông qua. Tùy thuộc vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp phát hành trái phiếu và loại trái phiếu sẽ được chào bán mà cơ quan có thẩm quyền thông qua phương án phát hành trái phiếu khác nhau. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cơ quan này là hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên nếu chào bán trái phiếu thường hoặc đại hội cổ đông của công ty cổ phần trong trường hợp chào bán trái phiếu chuyển đổi. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, phương án chào bán trái phiếu phải được Bộ tài chính chấp thuận. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ. Để chào bán cổ phần riêng lẻ, doanh nghiệp phải có quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông cho Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần; hoặc Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển thành công ty cổ phần; hoặc chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần; phương án chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán dưới 100 nhà đầu tư và hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán; trường hợp chào bán cho các đối tác chiến lược, tổ chức chào bán phải xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược. Đối tác chiến lược là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp. Trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan. tự, thủ tục chào bán chứng khoán riêng lẻ. Thứ nhất nếu chứng khoán chào bán là cổ phần thì phải làm thủ tục đăng kí với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ đăng kí được quy định tại Điều 9 nghị định 01/2010/NĐ-CP. Thứ hai Công bố thông tin trước khi chào bán chứng khoán riêng lẻ. Thứ ba Phân phối chứng khoán giá pháp luật về chào bán chứng khoán ở Việt Nam điểm Trong thời gian qua, hoạt động chào bán cổ phần cho các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, gọi tắt là chào bán cổ phần riêng lẻ, đã trở thành một công cụ huy động vốn khá hiệu quả. Mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành Công văn số 14285/BTC – UBCK ngày 26/11/2008 để hướng dẫn thực hiện một số điểm của Chỉ thị số 20/2008/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý thị trường chứng khoán, trong đó hướng dẫn các quy trình chào bán cổ phần riêng lẻ mà doanh nghiệp phải thực hiện nhưng doanh nghiệp vẫn khó tránh khỏi sai phạm trong quá trình áp dụng khi các quy định đó còn chưa cụ thể và chưa có chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm. Chính vì vậy, việc ban hành Nghị định số 01/2010/NĐ – CP về chào bán cổ phần riêng lẻ trong thời điểm này là hết sức cần thiết. Nếu như trước đây, việc chào bán cổ phần riêng lẻ của doanh nghiệp không chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước nào, thì từ nay, hoạt động này được đưa vào diện quản lý với sự tham gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong trường hợp tổ chức chào bán là tổ chức tín dụng, Bộ Tài chính trong trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong trường hợp tổ chức chào bán là công ty cổ phần chứng khoán, công ty cổ phần quản lý quỹ, công ty đại chúng, trừ các công ty đại chúng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, bảo hiểm, Sở kế hoạch và đầu tư, Ban quản lý Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế trong trường hợp tổ chức chào bán là các công ty cổ phần còn lại. Như vậy, sẽ góp phần tăng cường sự quản lý của cơ quan Nhà nước đối với thị trường tài chính, hạn chế khủng hoảng và làm minh bạch hóa thị trường tài chính trong nước. Đặc biệt quy định về các hình thức xử phạt hành chính trong hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ với mức phạt tiền cao nhất lên tới 100 triệu đồng cũng khiến các doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc hơn. điểm Việc một nghị định hoàn toàn mới ban hành sẽ dẫn đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hoạt động, đặc biệt là nghị định 01/2010/NĐ - CP đã thêm một bước trong thủ tục đăng ký chào bán chứng khoán riêng lẻ đối với các công ty cổ phân không phải là công ty đại chúng, đó là làm hồ sơ đăng ký chào bán riêng lẻ cho đơn vị quản lý trực tiếp. Nhiều doanh nghiệp đang còn rất lúng túng vì nghị định mới chưa được “phổ cập” chứ chưa nói gì đến việc có kinh nghiệm để làm hồ sơ đầy đủ, chính xác ngay từ đầu. Về giới hạn chuyển nhượng tối thiểu một năm, một số nhà đầu tư tổ chức nhất là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán, cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, quy định thời gian nắm giữ tối thiểu một năm như trên có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi vì, với thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tại, nhận định diễn biến trong một năm không hề dễ, nên với việc yêu cầu nắm giữ cổ phiếu trên một năm, doanh nghiệp sẽ khó hơn trong việc tìm được người góp vốn. Một số doanh nghiệp cũng băn khoăn trong việc chào bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên. Theo nghị định 01/2010, việc chào bán cho đối tượng người lao động cũng có thể bị điều chỉnh bởi quy định chào bán riêng lẻ. Trước đây, theo Thông tư 18/2007/TT – BTC ngày 13/03/2007 về việc hướng dẫn mua, bán lại cổ phiếu và một số trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của công ty đại chúng, thì việc cổ phiếu phát hành cho cán bộ công nhân viên không bị quy định về thời gian nắm giữ mà hoàn toàn phụ thuộc vào cơ chế quản trị của doanh nghiệp. Nay có thêm quy định tại nghị định 01/2010, một số doanh nghiệp băn khoăn họ phải làm theo quy định nào, khi muốn chào bán cổ phiếu cho dưới 100 người lao động? hướng hoàn thiện. Quy định về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng với mức vốn như hiện nay nếu so sánh với các quốc gia khác thì mức vốn điều lệ tối thiểu này là thấp. Hiện nay pháp luật nước ta đã cho phép tiến hành niêm yết giao dịch chéo, do đó điều kiện về mức vốn đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng cũng cần nâng lên tương ứng để các tổ chức niêm yết của Việt Nam có cơ hội cạnh tranh với các tổ chức niêm yết nước ngoài. Có thể nói, sự thành công hay thất bại của một đợt phát hành rất quan trọng đối với tổ chức phát hành. Chính vì vậy, để đảm bảo sự thành công của của một đợt chào bán đòi hỏi tổ chức phát hành phải lựa chọn một phương thức chào bán tối ưu nhất. Trong các phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng, có thể nói bảo lãnh phát hành là phương thức hiện đại và an toàn hơn cả. Phương thức này có thể sử dụng cho cả cổ phiếu và trái phiếu. Tuy nhiên LCK không quy định về phương thức bảo lãnh phát hành. Vì vậy, trong thời gian tới cần bổ sung quy định về phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán ra công chúng. Đồng thời cần có quy định cụ thể về điều kiện thành lập tổ chức bảo lãnh phát hành, cơ cấu tổ chức, hoạt động của tổ chức bảo lãnh phát hành, đặc biệt là những hoạt động của tổ chức bảo lãnh đối với tổ chức phát hành. Ngoài ra, pháp luật cũng cần quy định thêm phương thức phát hành chứng khoán ra công chúng như đại lý phát hành để tổ chức bảo lãnh có cơ hội lựa chọn phương thức chào bán chứng khoán ra công chúng phù hợp với điều kiện của mình. Về hồ sơ chào bán chứng khoán LCK cần cân nhắc đến việc quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức kiểm toán thực hiện kiểm toán, đưa ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá nội dung hoạt động kiểm toán của tổ chức đó, đơn giản hóa hồ sơ chào bán chứng khoán ra công chúng. Đồng thời, luật cần có nhiều quy định gắn trách nhiệm của tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên đối với kết quả hoạt động kiểm toán trong báo cáo tài chính của chủ thể chào bán. Pháp luật cần nới lỏng các điều kiện của tổ chức kiểm toán, thúc đẩy các doanh nghiệp nhanh chóng tham gia thị trường chứng khoán thông qua chào bán chứng khoán ra công chúng. Bên cạnh đó, trong hồ sơ đăng ký chào bán ra công chúng cần có thêm nội dung báo cáo về kết quả sử dụng nguồn vốn huy động lần trước. Mặt khác, các cơ quan quản lý thị trường không nên chỉ dừng lại ở việc giám sát các doanh nghiệp chào bán chứng khoán ra công chúng trong giai đoạn phát hành mà phải tiếp tục giám sát việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp này. Đây là điều tối quan trọng vì nếu không sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các nhà đầu tư. Về quy định trong bản cáo bạch phải có báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hai năm gần nhất, như đã nói ở trên, điều này làm hạn chế việc huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của các công ty mới thành lập. Do vậy, pháp luật nên sửa đổi theo hướng trong bản cáo bạch chỉ cần báo cáo tài chính của một năm gần nhất nhưng phải kèm theo báo cáo kết quả sử dụng nguồn vốn huy động trong đợt chào bán chứng khoán ra công chúng lần trước. - Về thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng UBCKNN nên rà soát kỹ hơn việc chào bán chứng khoán ra công chúng nhưng có thể giảm bớt một số thủ tục không cần thiết để rút ngắn thời gian đăng ký phát hành. Thời gian xét duyệt hồ sơ cũng cần được rút ngắn nhưng theo hướng xem xét chặt chẽ việc chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng. - Sửa đổi, bổ sung một số quy định về giá phát hành và giá bảo lãnh phát hành so với quy định hiện nay theo hướng chỉ đề ra các nguyên tắc giá chào bán và giá bảo lãnh trong hồ sơ đăng ký chào bán để tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp và tổ chức phát hành, giúp thị trường chứng khoán phát triển. - Trong thời gian tới có thể cho phép tổ chức phát hành lựa chọn một thời điểm thích hợp để bán. Như vậy có thể đảm bảo được giá trị chứng khoán, đảm bảo khả năng hấp thụ của thị trường. - Về hoạt động xử phạt vi phạm quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng Mới đây Nghị định 85/20101/NĐ-CP ban hành ngày 02/08/2010 quy định về xử phạt vị phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán. Điều 7 xử phạt vi phạm quy định về hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng. + Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức tư vấn phát hành; các tổ chức, cá nhân xác nhận hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có thông tin sai lệch hoặc không sửa đổi, bổ sung hồ sơ khi phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội dung quan trọng theo quy định phải có trong hồ sơ. + Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức tư vấn phát hành; các tổ chức, cá nhân xác nhận hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có thông tin cố ý làm sai sự thật hoặc che giấu sự thật. + Phạt tiền từ 1% đến 5% tổng số tiền đã huy động đối với tổ chức phát hành lập, xác nhận hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có sự giả mạo theo quy định tại khoản 1 Điều 121 LCK Ngoài ra còn có những hình phạt bổ sung khác nữa nhằm răn đe các chủ thể phát hành. Tuy nhiên có thể thấy mức độ xử phạt còn khá nhẹ, UBCKNN cần đưa ra những biện pháp mạnh mẽ hơn để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, từ đó mới bảo vệ được quyền lợi cho nhà đầu tư, đảm bảo công bằng cho các tổ chức chào bán trên thị trường. Đồng thời, UBCKNN nên nhanh chóng thành lập một Ban giám sát thị trường chứng khoán để kịp thời xử lý các trường hợp vi phạm. Nên tách UBCKNN khỏi Bộ Tài chính, tức là UBCKNN phải trực thuộc Chính phủ, do Chính phủ điều hành trực tiếp để ủy ban có đủ thực quyền để quyết sách, dễ dàng điều tiết thị trường. Các file đính kèm theo tài liệu này2727873 4
bài tập môn luật chứng khoán