bài thơ trong phim tam quốc diễn nghĩa
Phim truyền hình Tam Quốc diễn nghĩa chuyển thể từ danh tác cổ điển cùng tên ra mắt lần đầu năm 1994. Phim có sáu đạo diễn làm việc cùng sáu biên kịch. Diễn viên chính gồm Tôn Ngạn Quân, Đường Quốc Cường, Bào Quốc An, Ngô Hiểu Đông, Lục Thụ Minh, Lý Tĩnh Phi
Three Kingdoms (Tân Tam Quốc Diễn Nghĩa) là tác phẩm truyền hình thứ hai được chuyển thể từ tiểu thuyết ‘Tam quốc diễn nghĩa’ và quyển ‘Sử ký Tam Quốc’, kể về những năm tháng loạn lạc khi nhà Đông Hán sụp đổ thì Đổng Trác vùng lên thâu tóm quyền hành khiến quần hùng cát cứ phân chia Trung Quốc thành
Các đề tài chính bao gồm, thông tin về tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết tam quốc diễn nghĩa, các bộ phim về tam quốc, các tựa game có chủ đề liên quan tới tam quốc, các bộ sách, các câu chuyện, các bài học được đúc kết ra từ tam quốc chí….và nhiều nội dung
Tuổi Ngây Thơ - The Age of Innocence Vietsub - HD - Martin Scorsese không chỉ là một đạo diễn, nhà biên kịch tài ba mà ông còn là một người đàn ông tuyệt vời. Ngay từ khi còn nhỏ Martin đã bộc lộ niềm yêu thích với điện ảnh, đặc biệt là với các tác phẩm của Chủ nghĩa hiện thực mới và sự tỉ mỉ và cẩn
Hy vọng với bài viết tóm tắt sơ lược về Tam Quốc Diễn Nghĩa đã giúp bạn có những thông tin thiết yếu về tác phẩm này. Cũng như top 5 bài học kinh nghiệm giá trị và thiết thực dựa trên tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa sẽ hữu dụng cho bạn trong đời sống .
Các bài thơ trong Tam quốc diễn nghĩa. 1) Bài thơ đầu phim. Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông? Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng, Thị phi thành bại theo dòng nước, Sừng sững cơ đồ bỗng tay không. Núi xanh nguyên vẹn cũ.
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. Trong 84 tập phim Tam Quốc Diễn Nghĩa, tác giả La Quán Trung đã xây dựng thành công rất nhiều hình tượng đặc sắc của các nhân vật nổi tiếng, để lại biết bao câu nói bất hủ khiến người xem không ngừng cảm khái và nhớ mãi. Những câu nói mà bất cứ một người yêu Tam Quốc nào cũng đều muốn “học thuộc lòng”.Bạn đang xem Những câu nói hay trong tam quốcChúng ta đều biết, Tam Quốc diễn nghĩa cũng là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc bên cạnh Thủy Hử, Hồng lâu mộng và Tây Du Kí. Nội dung xuyên suốt chủ yếu của tác phẩm kinh điển này nói về cuộc đấu tranh giữa ba thế lực phong kiến bao gồm nhà Ngụy do Tào Tháo đứng đầu, nhà Thục do Lưu Bị đứng đầu và nhà Ngô do Tôn Quyền đứng đầu trong việc nhất thống thiên hạ. Tuy nhiên cái kết cuối cùng lại hết sức bất ngờ khi giang sơn lại rơi vào tay con cháu của Tư Mã Ý, vốn là một đại thần trong triều chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học mang tính sử thi, Tam Quốc Diễn Nghĩa còn để lại những giá trị nhân văn đầy sâu sắc cho biết bao thế hệ người đọc trên toàn thế giới. Và chúng ta hãy cùng nhau xem lại 21 câu nói kinh điển của các nhân vật nổi tiếng trong bộ tiểu thuyết này Tào Tháo – “Ta thà phụ người chứ quyết không để người phụ ta”Câu nói này được Tào Thào nói với Trần Cung khi Trần Cung hỏi Tào A Man rằng tại sao lại giết cả Lã Bá Sa mặc dù biết được gia đình ông ta không hề có ý định hãm hại mình, mà trái lại còn bày tiệc chiêu đãi? Nó thể hiện một góc tính cách của ông man trá, lạnh lùng đến đáng tháo, một gian hùng nhưng cũng là một anh hùng, luôn mang trong mình tư tưởng đa nghi. Vốn sinh ra tài giỏi hơn người, tính tình hào hoa phóng đãng nhưng nhiều mưu mẹo, có tài dụng quân, cai trị thiên hạ. Việc ông giết cả nhà Lã Bá Sa âu cũng chỉ vì bất đắc dĩ, do giải nhầm những “tín hiệu” trong đêm, lúc tâm ông không tĩnh, vì đang bị truy sát, mà tưởng là kẻ thù đã đến nên mới ra tay tàn độc đến thế. Nhưng tự sâu thẳm Tào Tháo không hề muốn sau này, khi xem cách ông nhìn nhận và trọng dụng nhân tài là biết, nhưng vì quá đa nghi và thông minh mà ông mới có nét tính cách “nguy hiểm” đến cũng chính là lý do vì sao người ta gắn cho ông cái mác “gian” vào chữ “hùng”, để trở thành một nhân vật “gian hùng” nhất thời Tam Quốc. Tạo nên một nhân vật rất độc đáo đặc biệt, người ta có thể chê ông, chửi ông, nhưng chắc chắn một điều rằng, ai cũng phải “nể” ông, và có rất nhiều điều phải “học hỏi” từ ông… một nhân vật quá xuất chúng, không thể bàn Gia Cát Lượng – “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Số trời đã định, không thể cưỡng lại”Một trong những người được vinh danh muôn đời sau không ai khác là Gia Cát Lượng, phò tá của Lưu Bị. Sự kiệt xuất của ông khiến kẻ thủ phải cúi đầu kính nể, hậu thế phải nghiêng mình bái phục qua rất nhiều điển tích, trận đánh lớn.“Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” – Số trời đã định, làm sao cưỡng lại! Kỳ nhân như Gia Cát Lượng ngàn năm khó kiếm, mang trong mình trí huệ tuyệt vời của người tu Đạo, được mệnh danh là “liệu sự như Thần”, tức chỉ có thể là “Thần” mới tính được đến mức ấy, là người thì không thể! Ấy vậy mà trong cuộc đời ông, ông cũng không thể nào tránh khỏi “thiên ý”, vốn là sự sắp đặt của định mệnh, của những sinh mệnh tầng cao hơn hẳn ông, vốn đã “an bài” toàn vẹn trật tự xã hội, sự thịnh suy của các triều đại, và của cả từng cá nhân mỗi một con người…Như lần đốt cha con Tư Mã Ý thất bại vì mưa trên trời tự nhiên’ rơi xuống, cản Lưu Bị tránh khỏi thất bại trong trận Di Lăng không được, lục xuất kỳ sơn nhiều lần suýt thắng thì bị điều về Tứ Xuyên, cầu sống lâu thêm 10 năm nữa để phục dựng sự nghiệp nhà Hán cũng bất thành,… tất cả đó đều là “ý trời”, trời muốn “biến” thì không ai cản nổi… chỉ có thuận theo tự nhiên mới là bậc trí giả, kẻ thức thời mới là trang tuấn thêm Cách Đăng Ký, Tạo Tài Khoản Game Ngọc Rồng Online Nhanh Nhất3. Lưu Bị – “Thà chết chứ không làm chuyện bất nhân bất nghĩa”Song hành cùng Gia Cát Lượng trong cuộc hành trình chinh phạt Tào Nguỵ là Lưu Bị với triết lí sống ngược lại Tào Tháo “Thà chết chứ không làm chuyện bất nhân bất nghĩa”.Chính vì điều này nên Lưu Bị, mặc dù chỉ là anh bán dép ngoài phố, đã lấy lòng được các anh hùng trong thiên hạ như 2 anh kem Trương Phi – Vân Trường, “thần nhân” Gia Cát Lượng, Triệu Tử Long, Mã Siêu, Hoàng Trung,… và hàng ngàn hàng vạn dân chúng thời bấy giờ, lập nên đại nghiệp hùng tráng, chấn động lịch Chu Du – “Trời đã sinh ra Du sao còn sinh ra Lượng”Trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Chu Du là đại danh từ tượng trưng cho lòng dạ hẹp hòi, không chịu thua ai, cũng chỉ khi ông ta bệnh nặng vô phương cứu chữa, không còn sống được bao lâu nữa, mới cảm khái mà thốt ra câu nói này từ tận đáy có điều là câu nói này quá tự ti, tôn vinh chí khí của Gia Cát Lượng, mà hạ mất uy phong của chính mình. Khiến cho hình tượng của hai người này đã định rõ vị trí trong đầu của mọi người mãi về sau. Thực chất, lịch sử cũng giống như một màn kịch, và để con người có thể hiểu thế nào là thiện-ác, đúng-sai, tốt-xấu thì đều cần người đến đễ “diễn” một phen, mới thấu tỏ được hàm nghĩa của từ câu chuyện này, Chu Du vốn là 1 đại đô đốc, một vị anh hùng cái thế nhà Đông Ngô, trí tuệ và uy dũng hơn người, nhưng vạn bất đắc dĩ, lịch sử lại “chọn ông” để đóng cái vai “ghen tỵ” ấy, nếu không thì sẽ khó có thể khiến cho con người hiểu được thế nào là “ghen tỵ”. Hoặc cũng có thể đây chỉ là thổi phồng trong tác phẩm nghệ thuật, với bàn tay cố ý sắp đặt của tác giả, cũng là để nhấn mạnh tình tiết ấy, chứ chưa hẳn trong lịch sử Chu Du là người như vậy. Nhưng có thể khẳng định, Đông Ngô có được 1 người như Chu Du quả là quá may mắn!5. Lưu Bị – “Khắp người Tử Long đều là gan”Đây là lời bình hăng say nhất của những ai hâm mộ Triệu Vân hay Triệu Tử Long, nguyên là trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Triệu Vân không phải là đối tượng được tác giả tập trung miêu tả, nhưng vì mỗi lần ông ra trận đều là tư thế hiên ngang hùng dũng, đánh đâu thắng đó, có thể được một câu khẳng định của Lưu Bị như vậy, tất nhiên là quá là vui mừng rồi!Còn nhớ trong trận Đương Dương Trường Bản, một mình Triệu Tử Long xung pha trận mạc, lọt giữa đại quân Tào Tháo, vẫn chiến đấu bất khuất, giết chết hơn 50 tướng địch, khiến ngay cả Tào Tháo cũng bội phục, từ đó giải cứu thành công ấu chúa A Đẩu, vang danh thiên hạ. Lòng can đảm, ý chí và sự trung thành ấy khiến người đời sau mỗi lần nhắc đến ông đều vô cùng cảm khái, và dành tặng cho ông một tình cảm vô cùng đặc biệt mà hiếm một nhân vật nào xuất hiện “không nhiều” mà lại được mến mộ đến Tào Tháo – “Sinh con thì phải được như Tôn Trọng Mưu”Tôn Trọng Mưu chính là tên tự của Tôn Quyền. Nhiều người khi mới đọc không hiểu hàm nghĩa của câu nói này của Tào Tháo, rốt cuộc là ông đang khen Tôn Quyền hay đang mắng Tôn Quyền đây. Sau này mới biết, kì thực Tào Tháo là thế hệ cùng thời với Tôn Kiên, cha của Tôn Quyền, nên ông nói câu này cũng không có gì lạ ra, ý của Tào Tháo chính là khen Tôn Quyền có thể giữ được cơ nghiệp của cha anh để lại qua bao phen sóng gió thời loạn thế, so với những đứa con bại trận của Viên Thiệu và Lưu Biểu thì quả là khác nhau một trời một vực. Khó trách Tào lại ngậm bồ hòn làm ngọt, rất khen ngợi Tôn Quyền, tự mình nói ra mấy lời thêm “Teemo Guide” Hướng Dẫn Cách Chơi, Lên Đồ, Bảng Ngọc Teemo Mùa 97. Tư Mã Huy – “Phục Long, Phượng Sồ, có được một trong hai, ắt được thiên hạ”Tư Mã Huy vô cùng coi trọng Gia Cát Lượng và Bàng Thống, ông từng ví Gia Cát Lượng với Khương Thượng Khương Tử Nha thời nhà Chu, Trương Lương thời nhà Hán, vậy nên những lời này từ miệng ông nói ra cũng không có gì là lạ. Cả hai đều là bậc kỳ tài trong thiên hạ, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, do đó những lời này cũng không phải là nói quá chút nhiên điều kỳ lạ là Lưu Bị đều có được hai người này, nhưng lại không thể bình định được thiên hạ, không thể không khiến người ta suy ngẫm. Thực ra như đã nói ở trên, đó cũng chính là vì “thiên ý” đã định, chứ không phải nói 2 người này không giỏi. Khí số nhà Hán đã mạt, cần thay đổi triều đại, cũng giống như con người, đến lúc già, phải chết thì sẽ phải chết thôi, cố gắng uống thuốc hay làm gì để kéo dài thọ mệnh cũng khó lòng thay đổi được số phận. Nhưng qua đây mới thấy, dù khí số nhà Hán đã cạn, đến thời Hán Hiến Đế là rơi vào tay Tào Tháo, ấy vậy mà sự xuất hiện của Gia Cát Lượng đã khiến bánh xe lịch sử “chậm lại”, vẫn khiến xuất sinh 2 vị Hoàng Đế cuối cùng của nhà Hán là Lưu Bị và con trai ông, điều này cho thấy tài năng của Gia Cát Lượng là hoàn toàn vượt xa sự tưởng tượng!
Vào cuối thời Đông Hán, một triều đại kéo dài 400 năm lịch sử dần bắt đầu đi đến hồi kết, triều đình thối nát, hoạn quan chuyên quyền, quan lại tham nhũng, nạn đói hoành hành. Là bối cảnh xã hội của Trung Hoa lúc bấy giờ. Đổng Trác, 1 thế lực đến từ phía tây bắc đem quân tiến vào kinh thành tiêu diệt hoạn quan, khống chế triều chính lập vị vua trẻ tuổi là Hán Hiến Đế lên ngôi. Tự phong mình là Thái Sư, nắm trọn toàn bộ quyền lực. Năm 190, liên minh các sứ quân do Viên Thiệu cầm đầu đã khởi binh nổi dậy ở các tỉnh miền đông chống lại Đổng Trác. Sau cuộc chiến, dưới áp lực của liên quân Đổng Trác phải mang theo Hiến Đế chạy về phía Tây tới Trường An vào năm 191. 1 năm sau, vì mắc mỹ nhân kế của Vương Doãn, ông bị con nuôi của mình là Lã Bố giết chết. Cũng từ sau cái chết của Đổng Trác, liên minh các sứ quân tan rã, các lãnh chúa địa phương vì sự tranh giành đất đai và quyền lực quay sang tấn công lẫn nhau. Đổng Trác chết, các bộ tướng dưới quyền là Lý Thôi, Quách Dĩ cũng tranh nhau quyền lực. Nhân cơ hội đấy, Hiến Đế tháo chạy khỏi kinh thành. Năm 196, ông được Tào Tháo hộ giá về Hứa Đô, tưởng chừng quyền lực hoàng đế sẽ được khôi phục nhưng lại bị Tháo sử dụng như con bài được gọi là "nắm Thiên Tử lệnh chư hầu". Lúc này Trung Hoa bị phân chia giữa các thế lực quân phiệt đáng gờm như Viên Thiệu ở Ký Châu đối đầu với Công Tôn Toản ở phía bắc, ở Từ Châu có Lưu Bị - mang trong mình máu mủ hoàng tộc cùng 2 người anh em kết nghĩa là Quan Vũ, Trương Phi ôm hoài bão phục hưng lại sự thịnh vượng của nhà Hán. Lã Bố sau khi giết được Đổng Trác, không lâu sau ông cũng bị các thuộc hạ của Trác đuổi đánh khỏi Trường An và hiện đóng quân ở Hạ Bì. Viên Thuật nắm Ngọc Tỉ trong tay và xưng đế ở Thọ Xuân. Xa hơn nữa về phía nam là viên tướng trẻ Tôn Sách xây dựng lực lượng tại khu vực hạ lưu sông Dương Tử, ôm mộng làm chủ miền nam Trung Hoa. Họ Tôn có 1 kẻ thù không đội trời chung trong khu vực đó là Lưu Biểu ở Kinh Châu. Những lãnh chúa khác như Mã Đằng, Lý Thôi,Trương Lỗ, Lưu Chương cũng dáy lên làn sóng tranh giành địa bàn. Chiến sự nổ ra khắp các khu vực tại Trung Hoa. Sử gọi đây là "quần hùng cát cứ". Khi Tào Tháo nắm trong tay vua Hán lực lượng trở nên hùng mạnh, địa bàn từng bước mở rộng; trong vòng 4 năm sau đó, ông lần lượt tiêu diệt Lã Bố ở Từ Châu, thôn tính Viên Thuật ở Thọ Xuân và trở thành phe quân phiệt mạnh nhất phía đông. Cùng lúc, Viên Thiệu cũng đã tiêu diệt đối thủ Công Tôn Toản ở phía bắc và trở thành thế lực mạnh mẽ nhất mà Tào Tháo chưa từng dám đối địch khi mới đến Hứa Đô. 2 tập đoàn quân phiệt mạnh nhất Trung Hoa được hình thành. Viên Thiệu với 70 vạn đại quân có tham vọng tiến xuống miền nam tranh thiên hạ. Lúc bấy giờ, Tào Tháo chỉ có trong tay quân để chống lại Viên Thiệu. Sau nhiều tháng lập kế hoạch, 2 bên đã giao tranh tại Quan Độ. Nhờ phát hiện và đốt cháy kho lương của quân Viên, Tháo thừa cơ dẫn quân tập kích khiến Viên Thiệu đại bại tan nát. Không lâu sau đó, Viên Thiệu suy sụp và bệnh mất. Các con trai của ông ta tranh quyền đoạt vị và tàn sát lẫn nhau. Tháo giành hoàn toàn thế chủ động. Vào năm 207, Tào Tháo tiêu diệt hoàn toàn thế lực tàn dư các con trai Viên Thiệu thống trị toàn bộ miền bắc Trung Quốc. Sau khi liên minh với Viên Thiệu bị tan vỡ, Lưu Bị phải chạy về Kinh Châu nương náu dưới trướng Lưu Biểu. Năm 208, Tào Tháo xuất quân nam chinh với ý định nhanh chóng thống nhất đế chế. Trước tình cảnh đó, Lưu Bị 3 lần thăm lều tranh và chiêu mộ được quân sư Gia Cát Lượng. Lượng đề ra kế sách "liên Ngô kháng Tào" và áp dụng ngay sau đó. Nghe tin quân Tào nam tiến, con Lưu Biểu là Lưu Tòng đầu hàng và dâng đất Kinh Châu. Tào Tháo có đất mà chả tốn 1 binh sĩ nào. Trong tình thế nguy cấp, Lưu Bị sai sứ sang Giang Đông đề xuất liên minh kháng Tào Tháo. Tôn Quyền lúc này người kế vị Tôn Sách ở Giang Đông mở cuộc họp bàn bạc với các mưu sĩ, cuối cùng ông cũng ra quyết định cùng Lưu kháng Tào. Mùa đông năm 208, Tào Tháo triển khai 1 lực lượng thủy quân lên đến 80 vạn quân hướng thẳng vào Giang Đông. Đại đô đốc Chu Du thống lĩnh thủy quân Giang Đông nghênh chiến quân Tào ở Xích Bích. Liên quân Tôn - Lưu lúc này chỉ có 5 vạn, quân Tào do đến từ phương bắc nên không thạo thủy chiến lại bị say sóng, nên Tháo lệnh cho các tàu chiến xích lại với nhau. Vì thế mà Chu Du dễ dàng sử dụng hỏa công thiêu rụi 80 vạn quân Tào trên sông chỉ trong 1 đêm. Sau trận chiến Lưu Bị thừa thắng chiếm đất Kinh Châu của quân Tào và các thành trì ở phía nam. Năm 214, Lưu Bị đưa quân vào Ích Châu và đánh bại Lưu Chương trở thành 1 thế lực tầm cỡ, đối trọng với Tào Tháo ở phía bắc. Sau khi thua trận Xích Bích, Tào Tháo khôi phục lại lực lượng. Sau đó đem quân triệt tiêu các thế lực cát cứ còn lại ở phía tây như Mã Siêu, Hàn Toại, Trương Lỗ. Năm 219, tướng trấn giữ Kinh Châu của phe Lưu Bị là Quan Vũ xuất chinh bắc tiến vây hãm Phàn Thành. Trước thế tiến công như vũ bão, quân Tào không chống đỡ nổi. Nhân cơ hội Lưu Bị và Tôn Quyền đang bất hòa về việc tranh chấp lãnh thổ, quân sư Tư Mã Ý của phe Tào hiến lên diệu kế "liên Ngô kháng Quan Vũ". Sau khi đạt được thỏa thuận chung, Tào -Tôn liên minh với nhau, Tôn Quyền phái đại đô đốc Lữ Mông lén lút đánh úp Kinh Châu đồng thời bắt sống và xử tử Quan Vũ. Phàn Thành từ đó cũng được giải vây, Kinh Châu nằm trọn trong tay Tôn Quyền. Một năm sau, Tào Tháo bệnh mất ở tuổi 66, con trai ông là Tào Phi lên kế vị, ông phế truất vua Hán chính thức lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Ngụy; 2 người còn lại là Lưu Bị và Tôn Quyền cũng lần lượt xưng đế hình thành thế chân vạc tam quốc Ngụy - Thục – Ngô. Sau khi xưng đế, Lưu Bị đem 70 vạn đại quân tiến đánh Kinh Châu để trả thù cho người em kết nghĩa Quan Vũ. Đại đô đốc nước Ngô là Lục Tốn kháng cự và sử dụng hỏa công. Lưu Bị thất bại thảm hại, suy sụp và bệnh mất, con trai Lưu Bị là Lưu Thiện lên thay, sai sứ làm hòa với nước Ngô cùng nhau đối địch nước Ngụy. Mùa xuân năm 228, thừa tướng nước Thục là Gia Cát Lượng tiến hành chiến dịch chinh phạt nước Ngụy thống lĩnh 10 vạn quân mã với mục tiêu chiến lược là chiếm đóng Trường An. Sau đó tiến thẳng vào kinh đô nhà Ngụy là Lạc Dương. Ngụy quân đại đô đốc Tư Mã Ý xuất chiến chống trả, chiến tranh Thục - Ngụy kéo dài 6 năm, cả 2 bên đều trong thế giằng co. Do vất vả, mệt nhọc lâu ngày mà sinh bệnh. Gia Cát Lượng không may qua đời trong doanh trại, chỉ thọ được 54 tuổi, học trò của Lượng là Khương Duy lên thay thế tiếp tục công cuộc bắc phạt kéo dài 15 năm. Sau khi đẩy lùi được các cuộc tấn công của quân Thục. Tư Mã Ý đức cao trọng vọng, trở thành trọng thần nước Ngụy. Năm 239, Tư Mã Ý cùng tông thất Tào Sảng làm phụ chính vị vua mới là Tào Phương lên ngôi chỉ mới gần 8 tuổi. Nhằm loại bỏ thế lực họ Tư Mã, Tào Sảng dùng mưu thu hồi binh quyền của Ý. Từ đấy, Tư Mã Ý cáo bệnh xin về hưu nghỉ già. 10 năm sau, nhân cơ hội Tào Sảng và những thân tín không đề phòng, Tư Mã Ý phát động chính biến, giết chết Tào Sảng, xử chém hàng loạt những quan chức trong tôn thất họ Tào đưa gia tộc họ Tư Mã nắm quyền lực toàn diện. Từ đó về sau, các hoàng đế họ Tào đều biến thành bù nhìn của họ Tư Mã. Do các cuộc bắc phạt của Khương Duy đều không mang lại kết quả nước Thục trở nên kiệt quệ và suy yếu. Năm 263, con trai Tư Mã Ý là Tấn Vương Tư Mã Chiêu lúc này đang cầm quyền nước Ngụy, ông cử 2 đại tướng Chung Hội và Đặng Ngải thống lĩnh hơn 10 vạn quân tiến đánh nước Thục. Khương Duy cất binh chống trả, chiến đấu quyết liệt với Chung Hội ở mặt trận phía bắc. Đặng Ngải lúc này đem quân đi đường tắt về phía núi Âm Bình xuống đồng bằng và tiến thẳng vào kinh đô nước Thục. Chúa nước Thục là Lưu Thiện vừa nghe tin đã sợ hãi mà ra đầu hàng. Sau khi vào bên trong Thành Đô thì Đặng Ngải từ trong đánh ra. Chung Hội từ ngoài đánh vào, hình thành 2 mũi giáp công nhanh chóng tiêu diệt nước Thục. Sau khi Thục diệt vong, nhưng Khương Duy vẫn còn nuôi hi vọng phục quốc. Nhận ra Chung Hội và Đặng Ngải có mâu thuẫn từ lâu và cả 2 đều có dã tâm tạo phản, Duy dẫn các tướng Thục đến hàng Chung Hội. Hội và Ngải lúc này đang đấu đá nhau, nhờ kế của Khương Duy, Hội dùng thủ đoạn khiến Ngải bị Tư Mã Chiêu xử tử, loại được 1 kẻ địch ra khỏi cuộc chơi. Sau đó Chung Hội quyết định cùng Khương Duy ở Thành Đô thực hiện kế hoạch tiêu diệt Tư Mã Chiêu mưu đồ thống nhất thiên hạ, không may sự việc bị bại lộ các tướng Ngụy nổi giận đem quân xông vào thành giết chết cả hai. Năm 265, Tư Mã Chiêu qua đời, con trai là Tư Mã Viêm lên thay, không lâu sau ông ép vua Ngụy Tào Hoán thoái vị và lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Tấn. Mùa đông năm 279, Tư Mã Viêm tổng động viên quân đội chinh phạt Đông Ngô. Đến năm 280, quân đội Đông Ngô chống trả yếu ớt rồi tan rã vua Ngô là Tôn Hạo đầu hàng quân Tấn chiến tranh kết thúc, thiên hạ được thống nhất, đóng lại 1 thế kỷ chia cắt đầy biến động. Từ khóa tìm kiếm tam quốc diễn nghĩa tập 2, tam quốc diễn nghĩa truyện, tóm tắt tam quốc diễn nghĩa, tam quốc diễn nghĩa tập 5, tam quốc diễn nghĩa nhân vật, tam quốc diễn nghĩa 2010 vietsub, tam quốc diễn nghĩa tập 3, tam quốc diễn nghĩa phim truyền hình, 1994, tam quốc chí, tam quoc 2019, bài thơ tóm tắt tam quốc diễn nghĩa, tóm tắt tam quốc diễn nghĩa trong 9 phút, tam quốc chí và tam quốc diễn nghĩa, tam quốc diễn nghĩa nhân vật, tóm tắt tam quốc diễn nghĩa hồi 28, tóm tắt nhanh tam quốc diễn nghĩa, bản đồ tam quốc
Tác giả Lưu Như[ Trung Quốc khá quen thuộc với hàng trăm nhân vật kinh điển trong lịch sử Trung Quốc như Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, đại đa số đều xuất thân từ Tam Quốc Diễn Nghĩa, nhưng nguyên gốc là Tam Quốc Chí, vậy phân biệt hai cuốn sách này như thế nào?Nói một cách đơn giản, tác phẩm đầu tiên là một cuốn tiểu thuyết, giống như những bộ phim lịch sử với quy mô lớn ngày nay, thuộc về tác phẩm văn học và xuất phát từ lịch sử nhưng không tương đương với lịch sử. Tác phẩm sau được xem là sách về lịch sử và những ghi chép về những sự việc có thật trong lịch sử. Một số người lại hỏi “Vậy thì Tam Quốc Diễn Nghĩa không hoàn toàn tương đương với lịch sử chân thực, tầm quan trọng của những câu chuyện này là gì?” Trên thực tế rất đơn giản. Mục đích chính của tiểu thuyết lịch sử là truyền tải một cách sinh động và truyền thần, tiết lộ mục đích chính thật sự của một giai đoạn lịch sử cổ đại Trung Quốc được dàn dựng và sắp xếp, đại diện cho lịch sử quan của tác giả, chính là nhìn nhận bộ lịch sử này như thế nào, nhận thức bộ lịch sử này như thế nào, và sau đó thể hiện nhận thức này dưới dạng một cuốn tiểu viết tiểu thuyết của người xưa khác với ngày nay do họ nhận sự giáo dục cũng khác. Những độc giả trong quá khứ được gọi là nho sinh, là nhận nền giáo dục về lòng nhân từ, công bằng, trí tuệ và niềm tin vào Khổng Tử. Chí lớn của những người đọc sách này là tế thế an dân và dạy con người trở thành người tốt. Do đó, hầu hết các tiểu thuyết gia mang chí lớn này sử dụng trí huệ của cả một đời người để hoàn thành tác phẩm của họ, mục đích là để thực hiện giá trị nhân sinh và đóng góp cho xã hội và con người. Do đó, họ không bao giờ viết chỉ để người đọc thấy phấn khích thích thú mà họ viết tiểu thuyết lịch sử để tiết lộ ý nghĩa thực sự của một giai đoạn lịch sử. Điều này có ý nghĩa gì vậy? Chính là vì tác giả đã thấy được nội hàm của văn hoá, muốn lưu lại hình mẫu và giáo huấn cho đời sau, dạy người ta làm sao để làm người cho đúng dụ trong bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa, toàn bộ cuốn sách tiết lộ rằng lịch sử của Tam Quốc là để lại cho nhân loại một văn hoá làm người-văn hóa liên quan tới chữ “Nghĩa”, nghĩa là dạy con người tuân thủ đạo nghĩ làm người trong nhiều tình huống khác nhau như thế nào. Để thể hiện một cách sống động và truyền thần, các nhân vật lịch sử được xử lý một cách nghệ thuật để làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, các nhân vật lịch sử được khắc sâu trong lòng người dân, lưu truyên thiên cổ, từ đó mà người ta hiểu được hàm nghĩa thật sự của “Nghĩa”.Mọi người đã quen thuộc với Quan Vũ bước ra diễn “Vượt năm ải chém sáu tướng”, “Hoa Dung đạo nghĩa thích Tào Tháo”, đối với chủ công là Lưu Bị thì không rời xa, đối với đối thủ là Tào Tháo thì cũng có các câu chuyện như có ân tất báo, vì thế mà được đặt vào vị trí “Nghĩa bạc vân thiên” có nghĩa khí cao ngút trời. Lưu Bị và Gia Cát Lượng cũng lưu lại cái nghĩa quân thần qua các câu “Tam cố mao lưu”, “Cúc cung tận tụy”.Do cuốn tiểu thuyết này được mệnh danh Tam Quốc Diễn Nghĩa, cái mà nó diễn chính là một chữ “Nghĩa”, theo quan điểm của tác giả, lịch sử chính là một kịch bản được an bài từ cõi u minh và để lạicho nhân loại nội hàm “Nghĩa” của văn vì thế, cuốn tiểu thuyết này chính là được mở đầu từ câu chuyện Kết nghĩa vườn đào của Lưu Quan Trương, giống như những bộ phim nhiều tập hiện đại, nhân vật chính xuất hiện trước, và khi vừa xuất hiện, nhân vật đã thể hiện rõ nét chủ đề “Nghĩa” của tác giả. Chúng tôi sẽ đi theo cái mạch của chữ “Nghĩa” này, đứng từ góc độ của tác giả La Quán Trung để khôi phục sự thật của mỗi câu chuyện kinh điển trong Tam Quốc Diễn tiếpPhần từ đăng 21-04-2020 Mọi bài viết, hình ảnh, hay nội dung khác đăng trên đều thuộc bản quyền của trang Chánh Kiến. Vui lòng chỉ sử dụng hoặc đăng lại nội dung vì mục đích phi thương mại, và cần ghi lại tiêu đề gốc, đường link URL, cũng như dẫn nguồn
Tam Quốc diễn nghĩa là một trong tứ đại danh tác của Trung Quốc làm đắm lòng không biết bao đọc giả khắp nơi trên thế giới. Nhiều học giả còn đưa ra lời bình Tam Quốc diễn nghĩa rằng ít ai có thể thấu tỏ nội dung sâu sắc truyền tải nhiều thông điệp của tác phẩm này. Điểm lại những câu nói bất hủ trong tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu hơn về điều đó. Tranh “Tam cố nhất ngộ” kể về điển tích Lưu Bị ba lần tìm gặp Khổng Minh nhưng đến lần thứ ba mới thỉnh mời được vị quân sư tài ba này. “Nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích Thố”, tức người thì phải được như Lữ Bố, ngựa thì phải là ngựa Xích Thố. Chỉ vỏn vẹn với 8 chữ nhưng lại ca ngợi hai sự vật, đủ để thấy được rằng bút pháp thời xưa ngôn ngữ tinh tế mà ý nghĩa lại vô cùng sâu xa. Hơn nữa câu văn còn sáng sủa dễ đọc, ngay đến cả đàn bà trẻ nhỏ cũng đều thuộc lòng một cách dễ dàng. Về sau, Quan Vũ tuy cũng có được ngựa Xích Thố, nhưng cũng chưa từng nghe ai nói như vậy cả, đoán chắc rằng tác giả ắt hẳn phải là người hâm mộ của Lữ Ôn Hầu rồi. “Ngũ Thường họ Mã, Bạch Mi giỏi nhất” Năm người con trai nhà họ Mã, tên tự lần lượt là Bá Thường, Trọng Thường, Thúc Thường, Quý Thường, Ấu Thường, nên gọi là Ngũ Thường. Chân mày của Mã Lương, tức là Quý Thường có màu trắng, nên người đời gọi là “Bạch Mi”, do đó mới có câu “Ngũ Thường họ mã, Bạch Mi giỏi nhất”. Trong năm anh em, người được nhiều người biết đến nhất chỉ có hai anh em Mã Lương và Mã Tốc Ấu Thường. Mã Lương thật sự là bậc kì tài, tài hoa xuất chúng, ông đã bỏ không ít công sức trong việc giúp Lưu Bị ngồi vững ở Tây Xuyên, đáng tiếc là ông mất quá sớm. Tuy nói sự thông minh của Mã Tốc cũng khá là cao, cũng nhiều lần được Gia Cát Lượng khen ngợi, chỉ đáng tiếc về sau, ông đã đi sai một nước cờ, để mất Nhai Đình. Do vậy, khi người ta đọc đến câu này, một là tiếc cho Mã Lương đã mất quá sớm, hai là tiếc thay Mã Tốc thông minh cả đời, nhưng lại hồ đồ một lúc. “Hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi” Có người nói “Hậu xuất sư biểu” không phải là của Gia Cát Lượng viết. Trước hết, cho dù là ai viết đi nữa thì “hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi” ở đây chính là khắc họa chân thật nhất về Gia Cát Lượng, cũng là biểu hiện tâm tình rõ nhất của Gia Cát Lượng khi sáu lần ra Kỳ Sơn nhưng không thay đổi được mệnh trời vào lúc cuối đời, nó cũng đã trở thành một câu nói ngoài cửa miệng của người thời nay. Khổng Minh ngồi điềm nhiên gảy đàn trong “Không thành kế” “Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng” Trong “ Tam Quốc diễn nghĩa”, Chu Du là đại danh từ tượng trưng cho lòng dạ hẹp hòi, không chịu thua ai, cũng chỉ khi ông ta bệnh nặng vô phương cứu chữa, không còn sống được bao lâu nữa, mới cảm khái mà thốt ra câu nói này từ tận đáy lòng. Chỉ có điều là câu nói này quá tự ti, tôn vinh chí khí của Gia Cát Lượng, mà hạ bệ uy phong của chính mình. Khiến cho hình tượng của hai người này đã định rõ vị trí trong đầu não mọi người. “Khắp người Tử Long đều là gan!” Đây là lời bình hăng say nhất của những ai hâm mộ Triệu Vân hay Triệu Tử Long, nguyên là trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Triệu Vân không phải là đối tượng được tác giả chú trong miêu tả, nhưng vì mỗi lần ông ra trận đều là tư thế hiên ngang hùng dũng, đánh đâu thắng đó, có thể được một câu khẳng định của chủ nhân như vậy, tất nhiên là vui mừng đến nỗi không còn biết trời đất gì nữa. Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy Lưu Bị không có tài dùng người, bởi Triệu Vân đã theo ông nhiều năm như vậy, đến lúc này mới biết được can đảm của ông, bình thường chỉ giúp ông các việc lặt vặt như vận chuyển lương thảo, thu dọn chiến trường, bảo vệ gia quyến, quả thật là lãng phí nhân tài. “Phục Long, Phượng Sồ được một trong hai, ắt được thiên hạ”. Tư Mã Huy vô cùng coi trọng Gia Cát Lượng và Bàng Thống, ông từng ví Gia Cát Lượng với Khương Thượng, Trương Lương, vậy nên những lời này từ miệng ông nói ra cũng không có gì là lạ. Cả hai đều là bậc kỳ tài trong thiên hạ, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, do đó những lời này cũng không phải là nói quá chút nào. Tuy nhiên điều kỳ lạ là Lưu Bị đều có được hai người này, nhưng lại không thể bình định được thiên hạ, không thể không khiến người ta suy ngẫm. “Việc trong không ổn hỏi Trương Chiêu, việc ngoài không ổn hỏi Chu Du” Tôn Sách khi nắm quyền thường là sách lược thì thiếu, khí phách có thừa’, không ngờ rằng ông lại vẫn có tài nhìn người như vậy, lúc trước tín nhiệm Thái Sử Từ về thành chiêu hàng mọi người, trước khi chết còn để lại cho Tôn Quyền những lời khuyên chân thành như thế, nhận ra phong cách xử sự của hai người này. Sự thật cũng đã chứng minh tính chuẩn xác trong lời ông nói, về đối ngoại thì Trương Chiêu chủ trương đầu hàng Tào Tháo, về đối nội thì Chu Du đem em gái của Tôn Quyền hồ đồ mà gả cho Lưu Bị, mà khi hai người làm những việc này lại làm được gần như hoàn mỹ. “Sinh con thì phải được như Tôn Trọng Mưu” Tôn Trọng Mưu chính là tên tự của Tôn Quyền. Nhiều người khi mới đọc không hiểu hàm nghĩa của câu nói này của Tào Tháo, rốt cuộc là ông đang khen Tôn Quyền hay đang mắng Tôn Quyền đây. Sau này mới biết, kì thực Tào Tháo là thế hệ cùng thời với Tôn Kiên, cha của Tôn Quyền, nên ông nói câu này cũng không có gì lạ cả. Ngoài ra, ý của Tào Tháo chính là khen Tôn Quyền có thể giữ được cơ nghiệp của cha anh để lại, so với những đứa con bại trận của Viên Thiệu và Lưu Biểu thì quả là khác nhau một trời một vực. Khó trách Tào lại ngậm bồ hòn làm ngọt, rất khen ngợi Tôn Quyền, tự mình nói ra mấy lời này. “Anh hùng trong thiên hạ, chỉ có sứ quân và Tháo thôi!” Có người cho rằng, trong tất cả những lời mà Tào Tháo từng nói qua, câu nói này là sâu sắc nhất. Khó trách Lưu Bị sợ đến nỗi làm rơi cả muỗng, ngay cả ông trời cũng phải rùng mình một cái, tưởng rằng thiên cơ đã bị tiết lộ rồi. Kỳ thực, Tào Tháo cũng chỉ là buột miệng nói như vậy, mục đích là để thăm dò Lưu Bị, nhưng cuối cùng lại bị Lưu Bị làm cho hồ đồ, phủ nhận câu nói chuẩn xác nhất trong suốt cuộc đời của mình. “Quan giỏi thời thịnh thế, gian hùng thời loạn lạc” Câu nói này, không chỉ là đã đặt định ra tính cách một đời cho Tào Tháo, mà cũng nói ra năng lực của ông, trong thời thịnh thế, ông là quan thần trị quốc an bang, trong thời loạn lạc thì là thủ lĩnh quân sự độc bá một phương. Một điều khác cũng khiến cho Tào Tháo vui mừng ra mặt khi nghe được câu nói này, nó không hề có dụng ý rằng ông có thể trở thành hoàng đế, và ông cũng không muốn đăng cơ xưng đế, để rồi trở thành một loại người giống như Vương Mãng, Đổng Trác trong sử sách. Tiểu Thiện, dịch từ NTDTV
Giá Nhất Bái là một ca khúc được sử dụng trong phim Tam quốc diễn nghĩa ở cảnh quay Lưu Bị, Trương Phi, Quan Vũ cùng nhau kết nghĩa vườn đào. Bài hát mang theo khí thế của những anh hùng chí lớn gặp nhau. Là cảnh quay khắc sâu cho người xem về tinh thần trượng nghĩa, kề vai gánh vác nghiệp non sơn. Giá nhất bái do Vương Kiện viết lời. Dưới giọng ca mang chất hùng hồn khí thế của Lưu Hoan, bài hát mang lại cho người nghe về hào khí và tinh thần tận trung tận nghĩa của tình huynh đệ giữa các trượng phu nam tử. Bài nhạc được sử dụng trong phim Tam quốc diễn nghĩa sản xuất 1994, ở cảnh quay kết nghĩa vườn đào của 3 anh hùng hảo hán trong tập 1 và cuối tập 19. Đại anh hùng và nghiệp giang sơn Trong Tam quốc diễn nghĩa, có nhân vật được coi là đại anh hùng đó là Tào Tháo và Lưu Bị. Lí do khiến người đời kính trọng hai vị anh hùng này đó chính là ý chí và sức mạnh của họ gắn liền với đại nghiệp thống nhất giang sơn. Muốn gây dựng giang sơn bề thế và quy về một mối. Ảnh Pinterest Nhiều người cho rằng, họ ôm mộng bá chủ thiên hạ. Nhưng thực chất sâu thẳm trong tâm họ không phải là sự theo đuổi quyền lực hay uy danh. Anh hùng ấy là muốn dụng Đức, dụng Chí của mình mà mang lại cho muôn dân hạnh phúc, mang tới cho thiên hạ sự thịnh vượng và an bình không binh đao, khói lửa. Cớ chi thiên địa tạo anh hùng để họ phải lo việc giang sơn. Phải chăng đó là thiên ý muốn sinh xuất một đại anh hùng để lo đại sự. Là người dùng đức của mình mà chiêu binh nạp tướng, là người có thể nhìn thấy khí chất anh hùng trong mỗi một nam nhân. Có người nghĩ, mình mạnh khỏe để có thể làm được nhiều việc cho bản thân và gia đình. Cũng có người nghĩ, mình học cao để có thể xác lập vị trí của mình nơi xã hội. Nhưng những điều đó đều là vì bản thân mà làm. Nhưng lại có người mang tâm tư, làm gì mà có thể mang lại cho tiện ích cho cả xã hội. Đó cũng xứng là một người ôm chí nghĩa hiệp . Người ấy ôm theo hoài bão lớn, muốn dùng vai gánh hết thảy mọi sự của muôn người. Ngày đêm miệt mài rèn thân, luyện chí để rồi một ngày bước chân kia không bao giờ khụy ngã, nắm đấm kia đủ xé tan màn đêm đen tối. Tuốt kiếm vung đao diệt trừ ác, hành thiện giúp dân, thiên hạ bình. Khi ý chí và mộng anh hùng được dệt, thì họ gặp nhau như thể là sự tương hợp của chí lớn. Xin một bái nhận nhau huynh đệ, nguyện cùng vào sinh ra tử cận kề cùng nhau. Gian khó kia chẳng thể làm họ lùi bước. Nghiệp lớn mang, tâm kia trượng nghĩa, lấy đất trời làm minh chứng cho tâm của hào kiệt. Vườn đào kia muôn hoa đua nở như nhuốm màu ân nghĩa từ nay xin được giữ vẹn toàn. Ảnh IFuun Vì đại nghiệp xin cùng nhau rẽ mây vượt sóng, chết chẳng sợ, gian nan chẳng ngại, khó khăn chẳng chùn bước. Với những đại anh hùng chí lớn nghiệp lớn, thì tay kia phải để gây dựng cơ đồ, giang sơn xã tắc. Đó mới chứng tỏ tài trai. Khi đất nước binh đao loạn lạc, khi thấy dân cơ cực lầm than, đại anh hùng nhìn thấy đâu đâu cũng là khói lửa, đâu cũng tiếng khóc tang thương. Lòng quặn thắt mà nguyện mang tấm thân này, đem chí dũng này mà gánh đi hết thảy. Mang tâm thống nhất lãnh thổ mà đem đức trị vì thiên hạ. Họ mang theo ý nguyện của thiên ý mà gây dựng giang sơn, nên muôn dân gọi họ là thiên tử. Bản lĩnh nam nhi trong cái hồn của bản nhạc Giá nhất bái Bài hát cùng âm thanh của bản nhạc khiến người nghe cảm thấy khí thế hào hùng của những hảo hán mang những ý chí và sức mạnh của mình mà thực hiện đại nghiệp. Cùng kết thành huynh đệ gánh vác nghiệp giang sơn. Anh hùng trọng ân nghĩa kết bái. Cùng hô vang khúc anh hùng, cùng đao kiếm xông trận. Khói lửa chông gai chẳng nao núng. Áo vải sờn vai nhưng chí lớn chẳng sờn lòng. Bản lĩnh nam nhi vẫy vùng tứ hải. Ngẩng mặt cao mà hiên ngang giữa đời. Một lạy này, gió xuân ấm áp gặp tri âm Hoa đào hé nở sáng tế đàn Một lạy này, cứu nước an dân lòng khẳng khái Dựng xây nghiệp lớn tỏ tài trai Một lạy này, trung nghĩa một lòng Bên nhau hoạn nạn không xa rời Một lạy này, sống chết không rời Trăng sao trời đất chứng lòng Giáo mác trên tay, đao kiếm sáng ngời Hãy xem anh em ta đây Sợ gì lửa khói xông thẳng tới Phải nói rằng, Giá nhất bái là ca khúc viết cho tất cả những anh hùng chí lớn nghiệp lớn. Nó mang theo hào khí hiên ngang. Sức mạnh của những hảo hán trượng nghĩa tề tựu tại đây kết thành huynh đệ, giống như cơn lốc tố có thể quét sạch hết thảy. Sức mạnh vũ bão ấy cũng chỉ để giúp dân giúp nước. Ấy chính là nghiệp của một trang nam tử ở đời. Một lạy này, cứu nước an dân lòng khẳng khái. Ảnh DailyFocus Dựng xây nghiệp lớn tỏ tài trai Nếu như Hảo hán ca được đánh giá là bản anh hùng ca đầy hào khí, thì Giá nhất bái cũng toát lên vẻ hào sảng ấy, nhưng cái hay của bản nhạc này không chỉ là ca ngợi và thể hiện bản lĩnh của trang nam tử, mà nó còn là lời ca cho tinh thần trung nghĩa. Tâm tư của anh hùng mượn trời đất chứng giám. Thiên địa thấu tỏ một cõi lòng. Ca khúc thể hiện được trong đoạn ba anh hùng cùng kết bái đất trời từ nay nguyện xin được vào sinh ra tử cùng nhau, vinh nhục ở đời, hoạn nạn cùng có nhau. Nghĩa khí ấy tạo nên sức mạnh của một đại anh hùng ôm mộng thống nhất giang sơn một cõi như Tào Tháo hay Lưu Bị. Tịnh Tâm
臨江仙Lâm giang tiênDịch nghĩaBản dịch của Điệp luyến hoaBản dịch của Điệp luyến hoaBản dịch của Hoàng TâmBản dịch của Từ NguyễnBản dịch của KaioBản dịch của Tử Vi Lang Mặc HươngBản dịch của Nam LongBản dịch của Phan Kế BínhBản dịch của Không rõBản dịch của Tiêu PhongBản dịch của Thái ÂmBản dịch của Trung DungBản dịch của Quang ViệtBản dịch của Vũ KhánhBản dịch của SGLTBản dịch của dịch của Cao Tự ThanhBản dịch của Huyền LâmBản dịch của Bùi KỷBản dịch của Trần Đông PhongBản dịch của Tri kỉ mộng khó tìmBản dịch của Ngô Trần Trung NghĩaBản dịch của Lâm giang tiênBản dịch của Lưu Mạnh Đức 臨江仙 滾滾長江東逝水, 浪花淘盡英雄。 是非成敗轉頭空。 青山依舊在, 幾度夕陽紅。 白髮漁樵江渚上, 慣看秋月春風。 一壺濁酒喜相逢。 古今多少事, 都付笑談中。 Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ, Lãng hoa đào tận anh hùng. Thị phi thành bại chuyển đầu không. Thanh sơn y cựu tại, Kỷ độ tịch dương hồng. Bạch phát ngư tiều giang chử thượng, Quán khan thu nguyệt xuân phong. Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng. Cổ kim đa thiểu sự, Đô phó tiếu đàm trung. Dịch nghĩa Nước sông Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông, Bọt sóng tung lấp vùi hết anh hùng. Đúng sai, thành bại cũng đều biến thành không. Chỉ có núi xanh vẫn mãi như xưa, Dù trải bao lần ráng chiều soi đỏ. Những người chài cá và tiều phu đầu bạc trên bến sông, Đã quen nhìn trăng thu, gió xuân ý nói từng trải. Một vò rượu đục, vui mừng gặp nhau. Xưa nay bao nhiêu chuyện đã qua, Đều mang vào trong những cuộc chuyện, tiếng cười. Bản dịch của Điệp luyến hoa Cuồn cuộn về đông sông mãi chảy, Cuốn trôi hết thảy anh hùng. Đúng sai thành bại phút thành không. Non xanh còn đứng đó, Mấy độ bóng dương hồng. Tóc bạc ngư tiều trên bến nước, Quen nhìn gió mát trăng trong. Một bầu rượu đục lúc tương phùng. Cổ kim vô số chuyện, Cười nói luận đàm ngông. Bản dịch của Điệp luyến hoa Trường Giang cuồn cuộn về đông, Bao nhiêu thế hệ anh hùng cuốn trôi. Đúng sai phải trái cũng rồi, Non xanh còn đó, mấy hồi tà dương. Ngư tiều tóc bạc trên sông, Quen nhìn thu nguyệt xuân phong xoay vòng. Gặp nhau rượu đục vui cùng, Xưa nay bao chuyện, ung dung luận đàm. Bản dịch của Hoàng Tâm Trường giang cuồn cuộn chảy về đông Sóng trắng cuốn phăng mọi anh hùng Đúng sai, thành bại, đều mây khói Núi xanh lặng đón bóng dương hồng Ngư tiều tóc bạc trên bến sông Quen với trăng thu gió xuân nồng Rượu đục tương phùng vui say bước Cổ kim bao chuyện, tiếng cười trong Bản dịch của Từ Nguyễn Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông Sóng bạc cuốn phăng hết anh hùng! Đúng – sai, thành – bại tan đâu cả Trơ lại núi xanh với áng hồng… Trên bến đôi ngư tiều bạc tóc Quen ngắm trăng thu, đón gió xuân Nhẩn nha kim, cổ cười thành tiếng Vui bầu rượu đục nghĩa tương phùng. Bản dịch của Kaio Sông dài cuồn cuộc ra khơi, Anh hùng sóng dập, cát vùi thiên thu. Dở hay, thành bại nào đâu? Bể dâu chớp mắt, ngoảnh đầu thành mơ! Non xanh còn đó trơ trơ, Tà dương lần lửa sưởi hơ ánh hồng. Lão tiều gặp lại ngư ông, Bên sông gió mát, trăng trong, kho trời. Rượu vò lại rót khuyên mời, Cùng nhau lại kể chuyện thời xa xưa. Kể ra biết mấy cho vừa? Nói cười hỉ hả, say sưa quên đời. Bản dịch của Tử Vi Lang Mặc Hương Cuồn cuộn sông dài tuôn biển đông, Sóng xô cát dập anh hùng, Tàn mơ thành bại cũng là không, Non xanh trơ vẫn đó, Lần lữa bóng chiều hồng. Đôi bạn ngư tiều phơ tóc bạc, Gặp nhau gió núi trăng sông, Mở vò rượu đục chuyện thêm nồng, Ngàn xưa nay kể lại, Vang mấy tiếng cười ngông… Bản dịch của Nam Long Cuồn cuộn trường giang nước chảy đông, Sóng xô cuốn hết anh hùng. Thị phi, thành bại thoắt thành không, Non xanh nguyên vẻ cũ, Mấy độ bóng chiều hồng. Bạc tóc ngư tiều trên bến nước, Quen cùng gió mát trăng trong. Rượu quê một nậm lúc tương phùng, Cổ kim bao những chuyện, Mặc cười nói cho xong. Bản dịch của Phan Kế Bính Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông Sóng vùi dập hết anh hùng Được, thua, thành, bại, thoắt thành không Non xanh nguyên vẻ cũ Mấy độ bóng tà hồng. Bạn đầu bạc ngư tiều trên bãi Đã quen nhìn thu nguyệt xuân phong Một bầu rượu vui vẻ tương phùng Xưa nay bao nhiêu việc Phó mặc nói cười suông. Bản dịch của Không rõ Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng Thịnh suy, thành bại theo dòng nước Sừng sững cơ đồ bỗng tay không Núi xanh nguyên vẹn cũ Bao độ ánh chiều tà Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi Vốn đã quen gió mát trăng trong Một vò rượu nếp vui bạn cũ Chuyện đời tan trong chén rượu nồng Bản dịch của Tiêu Phong Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông, Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng. Thị phi thành bại theo dòng nước, Tịch dương còn đó với non sông. Ngư tiều tóc bạc trên bến bãi, Đã quen gió mát bóng trăng lồng. Tương phùng nâng chén lai rai luận, Xưa nay bao chuyện, nói cười ngông. Bản dịch của Thái Âm Trường Giang cuồn cuộn về đông, Bạc đầu ngọn sóng anh hùng cuốn trôi. Thị phi thành bài đã rồi, Non xanh còn đó mấy hồi tang thương. Trời tây ngả bóng tà dương, Ngư tiều tóc bạc vấn vương chẳng đành. Đã quen gió mát trăng thanh, Một bầu rượu đục cũng thành niềm vui. Xưa nay bao chuyện trên đời, Tương phùng tri kỷ nói cười say sưa… Bản dịch của Trung Dung Trường Giang cuồn cuộn đổ về đông, Bao lớp sóng xô, bấy lớp anh hùng, Ngoảnh đầu lại nhân tình thế thái, Được-mất bại-thành bỗng chốc hóa hư không. Biết mấy tịch dương đượm hồng sóng nước, Bao kiếp ngư tiều bươn chải theo dòng, Đắm mình với gió sông, Chung chén rượu nồng thêm thỏa chí. Dưới ánh trăng thu càng thắm thiết cuộc trùng phùng, Chuyện xưa chuyện nay, bại-thành được-mất, Trút hết nỗi niềm thư thái ung dung. Bản dịch của Quang Việt Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng Được, thua, thành, bại theo con nước Cơ đồ thoắt cái cũng thành không Non xanh nguyên vẻ cũ Mấy độ bóng tà hồng! Bạn đầu bạc ngư tiều trên bãi Đã quen rồi gió mát, trăng trong Một bầu rượu nếp vui gặp gỡ Mặc thị phi tan trong chén rượu nồng. Bản dịch của Vũ Khánh Trường Giang cuồn cuộn về đông, Sóng vùi nước cuốn anh hùng còn đâu. Được thua, phải trái cơ cầu, Tà dương mấy độ vẫn màu non xưa. Bạc đầu dăm bác tiều ngư, Khi noi thu nguyệt, khi đùa xuân phong. Một bầu vui vẻ tương phùng, Xưa nay bao việc phó cùng chén suông. Bản dịch của SGLT Trường Giang cuồn cuộn đổ về Đông Vùi dập anh hùng, bọt sóng tung Non xanh nguyên vẻ cũ Bao độ ánh chiều hồng Đúng sai thành bại hóa hư không. Ngư tiều đầu bạc, trên bến sông Thấy quen rồi thu nguyệt xuân phong Xưa nay bao nhiêu việc Cứ nói cười phó mặc Một bầu rượu vui thú tương phùng. Bản dịch của Trường Giang cuồn cuộn sóng trôi đông Trập trùng tung bọt cuốn anh hùng Thị phi thành bại mờ hư ảnh Non xanh nguyên vẻ vẫn ung dung Mấy độ bóng chiều còn vương cảnh… Tóc bạc ngư tiều nơi bến cũ, Gió xuân quen hưởng ngắm trăng thu. Một bầu rượu đục vui gặp gỡ, Chẳng thiếu chuyện đàm tiếu phong lưu. Bản dịch của Cao Tự Thanh Cuộn cuộn Trường Giang xuôi hướng biển, Sóng tuôn cuốn hết anh hùng. Thị phi thành bại thoắt thành không. Non xanh như cũ đó, Mấy độ tịch dương hồng. Tóc bạc ngư tiều trên bến nước, Quen nhìn gió mát trăng trong. Một hồ rượu đục thoả tương phùng. Nhân gian bao việc trước, Cười nói chuyện bông lông. Bản dịch của Huyền Lâm Cuồn cuộn trường giang xuôi biển đông Anh hùng sóng bạc cuốn theo dòng Đúng sai, thành bại đều mây khói Chỉ núi nghìn năm dưới nắng hồng Bến nước ngư tiều sương tóc trắng Quen cùng gió mát với trăng trong Một bầu rượu đục khi tương hội Bàn luận chuyện đời cười như không. Bản dịch của Bùi Kỷ Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông Sóng dồn đãi hết anh hùng Được thua, phải trái thoắt thành không Non xanh nguyên vẻ cũ Mấy độ bóng tà hồng Bạn bạc đầu ngư tiều trên bãi Mảng trăng thanh gió mát vui chơi Gặp nhau hồ rượu đầy vơi Xưa nay bao nhiêu việc Phó mặc cuộc nói cười Bản dịch của Trần Đông Phong Trường Giang cuộn chảy về đông Sóng hoa vùi lấp anh hùng biết bao Ngẫm suy sai đúng là đâu Thành công thất bại quay đầu thành không Núi xanh chẳng đổi đứng trông Thái dương toả bóng chiều hồng bao phen Tiều phu, ngư phủ bãi ven Bạc đầu ngắm cảnh gió quen trăng ngần Một vò rượu đục thêm phần Mừng vui gặp mặt xa gần là đây Ít nhiều việc dẫu xưa nay Nói cười đều gửi chuyện này ý trong. Bản dịch của Tri kỉ mộng khó tìm Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông Sóng tung cuốn hết bao anh hùng Đúng sai thành bại bỗng hư không Núi xanh nguyên vẹn cũ Mấy lần ánh tà hồng Bạc đầu ngư tiều trên sông bãi Đã quen trăng thu gió xuân Một bầu rượu nhạt vui gặp gỡ Xưa nay ít nhiều chuyện Bỏ mặc tất cả vui nói cười Bản dịch của Ngô Trần Trung Nghĩa Cuồn cuộn Trường Giang xuôi biển lớn Sóng xô vùi hết anh hùng Đúng sai, thành bại tựa hư không Non xanh nguyên vẹn đó Mấy độ ánh chiều hồng Bạc tóc ngư tiều trên bến nước Đã quen gió thoảng trăng lồng Một vò rượu đục khách tương phùng Bao nhiêu câu chuyện cũ Cười nói để vui chung Bản dịch của Lâm giang tiên Trường Giang cuồn cuộn đổ về Đông Bấy lớp sóng xô mấy lớp anh hùng Ngoảnh đầu nhìn lại Nhân – Tình – Thế thái Được, mất, bại, thành bỗng chốc hoá hư không. Bản dịch của Lưu Mạnh Đức Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng Thị phi, thành bại theo dòng nước Sừng sững cơ đồ bỗng tay không Chỉ non sông kia còn vẹn cũ Dù đã trải bao ánh chiều tà cùng với thiên thu còn lưu mãi Dù bao kiếp người đã phải qua đầu bạc tiều phu cùng chài lưới Hiểu rõ trăng mây hiểu đời trần Mượn chén rượu ngon cùng đàm đạo hết thảy chuyện đời cười giòn tan. “Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng Thị phi thành bại theo dòng nước Sừng sững cơ đồ bỗng tay không Non xanh nguyên vẻ cũ Bao độ ánh chiều hồng Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi Vốn đã quen gió mát trăng trong Một vò rượu nếp vui bạn cũ Chuyện đời tan trong chén rượu nồng” Lâm giang tiên – Dương Thận Trường Giang cuồn cuồn chảy về đông Bọt sóng quét sạch anh hùng Đúng sai thành bại khoảnh đầu không Núi xanh nguyên vẻ cũ Bao độ ánh triều hồng Ngư tiều tóc trắng bên bến sông Đã quen nhìn gió mát trăng trong Một vò rượu đục vui gặp gỡ Xưa nay bao chuyện Đều gửi vào nói cười. CUỒN CUỘN SÔNG DÀI TUÔN BIỂN ĐÔNG SÓNG XÔ CÁT DẬP ANH HÙNG TÀN MƠ THÀNH BẠI CŨNG LÀ KHÔNG NON XANH TRƠ VẪN ĐÓ LẦN LỰA BÓNG CHIỀU HỒNG ĐÔI BẠN NGƯ TIỀU PHƠ TÓC BẠC GẶP NHAU GIÓ NÚI TRĂNG TRONG NÂNG VÒ RƯỢU ĐỤC CHUYỆN THÊM NỒNG NGÀN XƯA ĐEM KỂ LẠI VANG MẤY TIẾNG CƯỜI NGÔNG.
bài thơ trong phim tam quốc diễn nghĩa